Phát triển trẻ em là gì

QUAY VỀ

Phát triển toàn diện của trẻ em là gì?

Nội dung này được THƯ VIỆN PHÁP LUẬT tư vấn như sau:

    Căn cứ pháp lý: Điều 4 Luật Trẻ em 2016

    Phát triển toàn diện của trẻ em là sự phát triển đồng thời cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và mối quan hệ xã hội của trẻ em.

    Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email .

    QUAY VỀ

    Khái niệm trẻ em là gì? Ở mỗi khía cạnh của mỗi ngành khoa học lại có một cách khái niệm về trẻ em khác nhau. Quyền được bảo vệ của trẻ em là gì?

    Tùy vào góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể, khái niệm trẻ em được hiểu nhiều cách khác nhau

    Theo triết học xem trẻ em một khâutất yếu trong mối quan hệ biện chứng với tiến trình phát triển của hội. Con người sáng tạo ra lịch sử và trẻ em con đẻ của thời đại, của hội. Sự phát triển của hội, tương lai của một quốc gia, dân tộc tùy thuộc việc chăm sóc, bảo vệ giáo dục trẻ em

    Dưới góc độ tâm lý học, trẻ em là khái niệm được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm , nhân cách của con người. Sự phát triển tâm , nhân cách của trẻ em giai đoạn từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì một trong những nội dung quan trọng trong nghiên cứu của các nhà tâm học. Theo đó, tâm học phân chia lứa tuổi trẻ em thành các giai đoạn khác nhau, ứng với sự phát triển tiếp thu nhận thức khác nhau: Tuổi sinh, tuổi mẫu giáo nhỏ, tuổi mẫu giáo lớn, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên, tuổi thành niên mới lớn

    hội học lại xác định trẻ em người vị thế, vai trò hội khác với người trường thành. Trẻ em người chưa đạt đến sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất tinh thần để được coi người lớn. Do đó, trẻ em được hội quan tâm, tạo điều kiện sinh thành, bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển một cách toàn diện

    Dưới góc độ pháp , khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuổi. Trên sở độ tuổi, pháp luật xác định năng lực hành vi dành cho chủ thể đó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, một nhân được xem xét người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào ngày tháng năm sinh của người đó tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại xác định độ tuổi của trẻ em khác nhau do phụ thuộc vào điều kiện văn hóa, hội, kinh tế của mỗi nước. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 xác định Trẻ em người dưới 18 tuổi. Tương tự, hầu hết các quốc gia Châu Âu, Bắc Mỹ đều xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là trẻ em

    Hiện nay trên thế giới chỉ còn 11 nước, trong đó 4 nước khu vực châu Á vẫn quy định về tuổi pháp của trẻ em thấp hơn 18 tuổi [Nepal, Bắc Triều Tiên quy định 17 tuổi, Iran quy định 9 tuổi đối với nữ 15 tuổi đối với nam]. Các quốc gia trên thế giới trong khu vực đều điều chỉnh tuổi quy định pháp về trẻ em tuổi 18. châu Á, các quốc gia như Bangladesh, Lào, Campuchia,... đều quy định tuổi trẻ em cao hơn Việt Nam. Quốc gia châu Á gần đây nhất điều chỉnh quy định pháp luật quốc gia về tuổi trẻ em tương đồng với quy định pháp luật quốc tế Bangladesh

    Khái niệm trẻ em được quốc tế sử dụng tương đối thống nhất được đề cập trong nhiều văn kiện quốc tế, như Tuyên ngôn Giơnevề quyền trẻ em năm 1924 cho đến Công ước của Liên hợp quốc tế về quyền trẻ em [CRC] năm 1989. Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền trẻ em được chế định chủ yếu trong Công ước về quyền trẻ em năm 1989 2 nghị định thư không bắt buộc bổ sung CRC được thông qua năm 2000 [Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, Nghị định thư về sự tham gia của trẻ em trong xung đột trang]. Trong các văn kiện trên khái niệm trẻ emđều được xác định những người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, đây một điều luật mở cho các quốc gia thành viên. Theo đó, các quốc gia thành viên thể quy định độ tuổi được coi trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với quy định của CRC

    Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em CRC [ngày 28/02/1990]. Quyền trẻ em được quy định trong Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992, năm 2013. Quyền trẻ em cũng được thể chế hóa trong nhiều bộ luật luật, quy định cụ thể tập trung nhất vào Luật trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018

    Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em chính thức được đề cập trong Pháp lệnh Bảo vệ chăm sóc sức khỏe gia đình trẻ em năm 1979: Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi[Điều 1]. Sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em [CRC], Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em năm 1991, trong đó quy định trẻ em công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. So với Pháp lệnh năm 1979, độ tuổi của trẻ em đã được nâng từ 15 lên 16 tuổi không xác định trẻ em chỉ được tính từ khi mới sinh ra được xác định sớm hơn. Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004 tiếp tục xác định trẻ em công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Theo quy định này, những trẻ em dưới 16 tuổi công dân Việt Nam mới được hưởng đầy đủ các quyền cả bổn phận của trẻ em

    Luật trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018 quy định: Trẻ em người dưới 16 tuổi. Qua khái niệm này, chúng ta thấy sự thay đổi so với trước đây, đó tất cả trẻ em dưới 16 tuổi, không phân biệt công dân Việt Nam hay người quốc tịch, người không quốc tịch lãnh thổ Việt Nam đều được bảo vệ chăm sóc giáo dục như nhau. Qua quy định về độ tuổi trẻ em cho thấy, pháp luật Việt Nam ngày càng hài hòa hơn với pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội nhập

    Xem thêm: Vấn nạn bạo lực trẻ em trong gia đình hiện nay tại Việt Nam

    Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhiều văn bản đề cập tới trẻ em thì thường dùng từ ngườihoặc người chưa thành niênxác định độ tuổi rất khác nhau. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người chưa thành niên người lao động dưới 18 tuổi [Điều 18]; Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định người từ đủ 14 tuổi đã phải chịu trách nhiệm hình sự [Điều 12]; Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người lao động chưa thành niên người lao động dưới 18 tuổi [Điều 143]; Luật Xử vi phạm hành chính năm 2012 quy định tuổi chịu trách nhiệm hành chính người từ đủ 14 tuổi trở lên [Điều 5]... . Những quy định này cho thấy, độ tuổi của người chưa thành niên theo quy định của pháp luật Việt Nam trùng với quy định về độ tuổi của trẻ em theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em [CRC]. Trẻ em theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em CRC người thành niên theo pháp luật Việt Nam đều những người chưa trưởng thành, còn non nớt cả về thể chất trí tuệ, cần nhận được bảo vệ đặc biệt. vậy, trong một chừng mực nhất định, thuật ngữ người chưa thành niên thuật ngữ trẻ em có cùng một ý nghĩa dùng để chỉ những người chưa trưởng thành. Nhưng nếu xét dưới góc độ tuổi thì khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm trẻ em, tức người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em những người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

    Để đáp ứng những yêu cầuđặt ra trong công tác bảo vệ trẻ em, khắc phục dần những khoảng trốngtrong thực tiễn áp dụng pháp luật để phù hợp với pháp luật quốc tế, Quốc hội đã thông qua Luật Thanh niên 2020, trong đó quy định nhà nước thực hiện điều ước quốc tế về quyền trẻ em [CRC] đối với thanh niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phù hợp với điều kiện Việt Nam. quy địnhnhư vậy nhưng chúng ta thấy rằng, lứa tuổi này tâm đang trong thời kỳ phát triển nhanh chóng chưa ổn định, dễ bị tổn thương, dễ thay đổi, dễ uốn nắn còn phụ thuộc; các em ham khám phá, học hỏi, ham hoạt động ấp đầy ước , hoài bão nhưng cũng rất hay tự ái, tính hiếu kỳ, háo thắng, thiếu tự tin, thiếu kiên nhẫn thiếu trải nghiệm, kinh nghiệm thực tế, nhất giai đoạn từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi. vậy, trẻ em vẫn rất cần được bảo vệ chăm sóc đặc biệt hơn, chu đáo hơn để định hướng các em phát triển bình thường

    Tuy nhiên, trong luận văn này, thuật ngữ trẻ emđược áp dụng cho tất cả những người dưới 16 tuổi theo quy định Luật Trẻ em

    2. Quyền bảo vệ của trẻ em là gì?

    Khái niệm quyềnhiểu theo nghĩa tiếng Việt, cái pháp luật, hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành... khi thiếu được yêu cầu để , nếu bị tước đoạt thể đòi hỏi để giành lại. Về khái niệm khoa học, Quyềnnguyên tắc đạo đức xác định thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một hội nhất định. Khái niệm Quyềnchỉ liên quan đến hành động cụ thể liên quan đến tự do hành động, nghĩa thoát khỏi những cưỡng chế về mặt thể xác, thoát khỏi tình trạng bị ép buộc hay bị can thiệp bởi những người khác. Đối với mỗi nhân, quyền sự thừa nhận về mặt đạo đức đổi một sự chọn lựa tích cực được tự do hành động theo trí, các mục tiêu riêng, do sự lựa chọn riêng tự nguyện, không bị cưỡng ép. Đối với những người xung quanh, các quyền của nhân đó không áp đặt nghĩa vụ nào lên những người xung quanh ngoại trừ một quyền phủ quyết, họ không được vi phạm các quyền của nhân đó

    Quyền một khái niệm được dùng để miêu tả một nguyên tắc liên quan đến những lợi ích bản con người được hưởng, không phân biệt đặc điểm hay hoàn cảnh nhân đó. Việc công nhận quyền của một nhân hay một nhóm nhân đồng nghĩa với trách nhiệm của những người khác trong việc hành động để thực hiện của một nhân hay một nhóm nhân

    Trước đây, quan niệm cho rằng, trẻ em do còn non nớt về thể chất tinh thần, nên quyền trẻ em bao gồm những biện pháp nhằm che chở, bảo vệ khỏi mọi sự xâm hại, trẻ em cần phải được bảo vệ chăm sóc một cách đặc biệt. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không xuất phát từ góc độ quyền trẻ emviệc chăm sóc, bảo vệ trẻ em như một sự bao dung, che chở, sự thương hại, ban ơn

    Hiện nay, quan điểm về quyền của trẻ em mang tính tiến bộ tích cực hơn. Trẻ em được nhìn nhận một chủ thể trong các mối quan hệ hội, mỗi trẻ em là một thể được hội công nhận, do đó trẻ em cũng quyền bản của con người, các quyền của trẻ em được pháp luật tôn trọng bảo vệ một cách đầy đủ hơn. Bên cạnh đó, trẻ em được hưởng một số quyền đặc thù chỉ trẻ em mới như quyền được khai sinh, được áp dụng các biện pháp xử nhẹ hơn khi vi phạm hành chính hay được áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn người đã trưởng thành khi cùng một hành vi phạm tội. Trẻ em cũng nhiều quyền ưu tiên hơn người lớn như quyền được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được chăm sóc, được học tập, được bảo vệ, được tạo điều kiện để vui chơi..

    Như vậy, quyền trẻ em chính quyền con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển tính chất cuộc sống trẻ em. Đó những đặc quyền tự nhiên của trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia phát triển toàn diện. Quyền trẻ em chính biện pháp nhằm đảm bảo cho trẻ em không những được hưởng các quyền còn trở thành chủ thể của chính các quyền đó

    Xem thêm: Một số quyền cơ bản của trẻ em – Những điều cần biết

    Theo các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em thì, quyền trẻ em quyền con người của trẻ em, bao gồm bốn nhóm quyền bản nhóm quyền sống còn, nhóm quyền phát triển, nhóm quyền bảo vệ nhóm quyền tham gia... Cụ thể

    Nhóm quyền sống còn: Quyền sống còn quyền bản của mỗi nhân, tiền để cho việc bảo vệ tất cả các quyền khác của con người. Bảo vệ quyền này của trẻ em cần dựa trên nguyên tắc lợi ích tốt nhất của trẻ. Các quyền này cần phải được thực hiện ngay không chậm trễ trẻ rất dễ bị tổn thương. Khi những nguy đe dọa quyền sống còn của trẻ như: gây ra những tai nạn thương tích, những tổn thương do người lớn đem lại, thiếu sự chăm sóc yêu thương hỗ trợ của gia đình, bị phân biệt đối xử. Những nguy đe dọa tới sự sống còn của trẻ em rất nhiều thể xảy ra bất cứ nơi nào, cộng đồng quốc gia nào, kể cả ngay tại gia đình. Tất cả chúng ta phải trách nhiệm đảm bảo quyền được sống mức cao nhất thể được

    Nhóm quyền bảo vệ: Quyền bảo vệ bảo vệ trẻ em tránh mọi sự phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác tinh thần, bị bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, bảo vệ trước các tệ nạn hội như buôn bán trẻ em, nghiện ma túy, lạm dụng khi vi phạm pháp luật hình sự, không bị buộc phải tham gia vào các cuộc xung đột trang, lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng. Nghiêm cấm lạm dụng trẻ em, bất kỳ một hành vi hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của nhân, tổ chức hay của cộng đồng như xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền sự tự do của trẻ em, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, hội của trẻ. Khi trẻ bị lâm vào tình trạng khủng hoảng khẩn cấp như tình trạng rối loạn, thiếu hụt, mất thăng bằng nghiêm trọng do những yếu tố bên ngoài tác động ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần, hội của trẻ em

    Nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục quyền được mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức xã hội của trẻ. Quyền được chăm sóc sức khỏe, được học tập phát triển năng khiếu

    Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch

    Nhóm quyền tham gia: Bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề liên quan tới bản thân, quyền được lắng nghe được kết giao hội họp. Quyền được tiếp cận thông tin bày tỏ ý kiến tham gia hoạt động hội. 

    Việt Nam một trong số các quốc gia chú trọng đến bảo vệ quyền trẻ em. Bởi Việt Nam quốc gia đầu tiên tại Châu Á nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quyền trẻ em CRC. Các quyền trẻ em được Việt Nam ghi nhận khá đầy đủ, toàn diện cụ thể hóa thông qua nhiều quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và được cụ thể hóa bằng nhiều chương trình hành động, bao gồm các quyền: Quyền quốc tịch được khai sinh, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền sống chung với cha mẹ, quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm danh dự, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được học tập, quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch, quyền được phát triển năng khiếu, quyền tài sản, quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến tham gia hoạt động hội.

    Mỗi nhóm quyền lại được cụ thể hóa tại nhiều chế định pháp luật riêng nhằm cụ thể hóa các quyền đó thông qua việc quy định quyền của trẻ hoặc các hành vi cấm thực hiện để đảm bảo quyền của trẻ em. dụ, đối với quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm danh dự của trẻ em như ngược đãi, đánh đập, bạo hành về thể chất tinh thần trẻ; cấm sử dụng lao động trẻ em làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.... So sánh giữa cách hiểu về quyền trẻ em Việt Nam tương đối phù hợp hài hòa với quyền trẻ em được quy định tại các công ước quốc tế. Đánh giá vấn đề này, tổ chức UNICEF tại Việt Nam nhận định: Việt Nam đã những nỗ lực đáng kể trong việc tạo khuôn khổ pháp thực hiện các quyền trẻ em, luật pháp chính sách liên quan của Việt Nam ngày càng tương thích với các chuẩn mực quốc tế...

    Xem thêm: Chính sách hỗ trợ đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

    Luật trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018 đã cụ thể hóa các nhóm quyền của trẻ em trong Công ước thành 25 điều luật về quyền của trẻ em trong đó 7 điều luật quy định về quyền được bảo vệ của trẻ em [từ Điều 25 đến Điều 31] cụ thể các quyền bảo vệ của trẻ em như: không bị xâm hại tình dục, không bị bóc lột sức lao động; không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc; không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt; bảo vệ khỏi chất ma túy; trong tố tụng xử vi phạm hành chính; khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.

    Trong Luật Trẻ em các tài liệu chuyên môn thường sử dụng thuật ngữ quyền được bảo vệ của trẻ em những quy định trẻ em phải được bảo vệ chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột xâm hại tình dục, lạm dụng ma túy, sao nhãng bị bỏ rơi, bị bắt cóc, buôn bán. Khi đó, trẻ em chủ thể bị động nhận được sự bảo vệ của các chủ thể khác nhưng trong Luận văn này, tác giả mong muốn nhấn mạnh trẻ em vừa chủ thể nhận được sự bảo vệ từ các chủ thể khác đồng thời trẻ em cũng chủ thể của các quyền bảo vệ trẻ em, các em thể tự mình lên tiếng, bảo vệ của quyền lợi chính đáng của mình khi bị các chủ thể khác vi phạm. vậy, thuật ngữ quyền được bảo vệ của trẻ emnội hàm tương đồng thuật ngữ quyền bảo vệ của trẻ em. Từ đó nên tác giả sử dụng thuật ngữ quyền bảo vệ của trẻ emthay thuật ngữ quyền được bảo vệ của trẻ em

    vậy, quyền bảo vệ của trẻ em những quy định pháp luật ghi nhận các biện pháp nhằm đảm bảo cho trẻ em được sống an toàn, lành mạnh khỏi bị gây tổn hại về thể chất tinh thần.

    Chủ Đề