Cô gái sài gòn đi tải đạn của bình thường

Cô gái sài gòn đi tải đạn của bình thường
Khu di tích Dân công hỏa tuyến Mậu Thân 1968. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)

Từ đây, những đoàn dân công hình thành ở “vành đai lửa” đã trở thành điểm son cách mạng của vùng Vĩnh Lộc, nơi ghi dấu sự hy sinh của 32 dân công hỏa tuyến.

Bên cạnh bộ đội chủ lực, những thanh niên xã Vĩnh Lộc và vùng lân cận đã tích cực ngày đêm phục vụ chiến đấu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Nhiều người chỉ mới 16-17 tuổi, độ tuổi thanh xuân đẹp nhất cuộc đời. Họ tham gia với mong muốn hỗ trợ để quân ta hoàn thành sứ mệnh tổng tiến công, sớm thống nhất đất nước, đưa non sông về một mối.

Những cô gái Sài Gòn đi tải đạn

Xã Vĩnh Lộc là vùng đất “đầu sóng ngọn gió” vì nằm ở địa thế giáp với căn cứ Vườn Thơm và căn cứ địa Củ Chi, từ vị trí này, ta tiến công vào cơ quan đầu não của địch.

Đầu năm 1968, nhân dân Vĩnh Lộc dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã đã sát cánh cùng chiến dịch, vận động quần chúng tham gia phục vụ cách mạng, tiêu biểu là các đoàn dân công làm nhiệm vụ tải đạn, chuyển thương cho các đơn vị bộ đội chủ lực.

Theo tài liệu về “Dân công hỏa tuyến Vĩnh Lộc Mậu Thân 1968” (Đảng bộ huyện Bình Chánh), năm 1966, dưới sự chỉ đạo của phân khu II, Huyện ủy Bình Tân (nay là Bình Chánh), cấp ủy xã Vĩnh Lộc cùng các chi bộ trực thuộc đã hoạt động bí mật, hợp pháp xen cài trong các ấp chiến lược, nổi bật có đồng chí Phạm Văn Be (Tư Be, Bí thư Đảng ủy xã Tân Hòa I), Phạm Văn Năm (Xã đội trưởng). Đầu năm 1968, cấp ủy cùng Chi bộ các ấp đã tổ chức, vận động hàng trăm nam, nữ thanh niên tham gia các đoàn dân công với nhiệm vụ tải đạn, cáng thương, phá rào ấp chiến lược, đắp mô, đào đường, phá cầu, đào công sự… để phục vụ chiến đấu.

Những giờ phút lịch sử của đợt 1 và đợt 2 của chiến dịch Mậu Thân, các đoàn dân công đã dũng cảm xuống đường, băng mình trong đạn lửa. Suốt cả hai đợt, mỗi dân công đều mang trên mình từ 15-20 kg đạn dược hay đồ dùng quân sự; dân công nào cũng tải từ 6-10 lần trở lên, để kịp chuyển vũ khí cho tuyến trên và đưa thương binh về tuyến sau.

Với tinh thần cách mạng, sẵn sàng hy sinh tuổi thanh xuân cho đất nước, những cô gái tuổi đời còn rất trẻ đã quên mình tham gia đoàn dân công hỏa tuyến.

Bà Lê Thị Khuynh (Ba Trang), một đảng viên trẻ trực tiếp vận động người dân tham gia đoàn khi đó, kể lại: “Mọi người đi đông lắm, cả 70 - 80 người. Đêm nào cũng có đoàn đi dân công. Lúc đó, nhờ tinh thần cách mạng nên việc vận động dân công cũng không khó khăn gì. Chiều chiều tôi xuống nói “chị, em ơi, tối nay mình đi dân công nha” thì mọi người ừ liền. Tối hẹn tập trung ở đâu đó, nhà ai, rồi được dẫn đi."

Cô gái sài gòn đi tải đạn của bình thường
Bà Phạm Thị Ôi chia sẻ thông tin những liệt sỹ, là đồng đội trong đoàn dân công hỏa tuyến năm xưa. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)


Bà Phạm Thị Ôi (Bảy Ôi), một dân công hỏa tuyến xã Vĩnh Lộc thoát được trận càn của địch khi xưa, nay đã gần 70 tuổi, vẫn nhớ như in về thời kỳ hào hùng, oanh liệt của vùng quê. “Trong năm 1967, tôi đi tải đạn không biết bao lần. Chị em tải được mấy chục ký (kg), vác thẳng lên vai. Tôi đã vác trái pháo để pháo kích sân bay, trái bự bự, để trên vai vác. Đi riết đi riết mỏi thì sang vai bên kia. Hồi đó tôi đi cùng chị Bảy Sàng, người thấp quá, vác không nổi nên bả chỉ cầm có hai cái chân nó thôi (giá pháo)," bà Bảy Ôi vừa cười vừa nhớ lại những kỷ niệm khó phai.

Ra đi ở tuổi thanh xuân

Phần lớn dân công hỏa tuyến tại Vĩnh Lộc là những cô gái ở độ tuổi trăng tròn. Đây là lứa tuổi với bao ước mơ tươi đẹp, họ có quyền chọn lựa cho mình một lối đi khác, bởi Vĩnh Lộc nằm ngay vị trí cửa ngõ Sài Gòn, sát gần một đô thành hào nhoáng, rồi bao lời khuyến dụ, mua chuộc và cả dọa nạt của địch. Nhưng vượt lên tất cả, những chàng trai, cô gái vì yêu quê hương đã hiến dâng tuổi thanh xuân khi Tổ quốc cần mình.

Phục vụ chiến đấu, mỗi cao điểm chiến dịch và khi có trận đánh của bộ đội địa phương như Tiểu đoàn 6 Bình Tân, bộ đội chủ lực của Sư đoàn 9, quân dân Vĩnh Lộc sẵn sàng giúp đỡ tải đạn, chuyển thương binh, nấu cơm, đắp đường... Khi cấp ủy xã, đảng viên các ấp truyền lệnh, các tổ viên nòng cốt như các chị: Phạm Thị Tấm, Phạm Thị Nang, Nguyễn Thị Hai, Nguyễn Thị Khỏi, Nguyễn Thị Tư, Lê Thị Khuynh (Ba Trang) đi thông báo “đêm nay đàng mình có trận đánh” là nam nữ thanh niên nhanh chóng tập hợp và luân phiên nhau phục vụ. Mỗi đoàn dân công có khoảng 50-60 người, có du kích dẫn đường.

Theo tài liệu “Dân công hỏa tuyến Vĩnh Lộc Mậu Thân 1968," trong đợt II của chiến dịch Mậu Thân, nhận được lệnh từ trước, đêm 15/6/1968, đoàn dân công Tân Hòa I và Tân Hòa II tập trung với 55 người, trong đó một đồng chí du kích có vũ trang dẫn đường, một thanh niên tòng quân. Nhiệm vụ của đoàn đêm đó là chuyển hai thương binh của Sư đoàn 9 đang nằm dưới ghe ở Bưng Cát (Vĩnh Lộc) về Bình Thủy (huyện Đức Hòa, Long An), sau đó đoàn tải đạn từ Long An về điểm tập kết.

Kế hoạch là vậy, nhưng khoảng 22 giờ 30 phút, khi đang di chuyển ở Bưng Cát đã bất ngờ bị địch phát hiện. Địch rọi đèn pha sáng cả một vùng, nên dù đã nấp dưới các bụi dứa, nhưng do hai chiếc ghe chuyển thương binh làm nước động tạo sóng và vẩn đục nên địch xả đạn liên tiếp xuống đìa dứa. Hai chiếc máy bay của địch bay sát đầu ngọn dứa và nhả đạn liên tục khiến nhiều dân công và chiến sỹ hy sinh.

Cô gái sài gòn đi tải đạn của bình thường
Bà Phạm Thị Ôi kể về trận càn kinh hoàng của địch năm xưa, cướp đi mạng sống của 32 dân công Vĩnh Lộc. (Ảnh: Xuân Khu/TTXVN)


Trận oanh kích đã cướp đi sinh mạng 32 người con ngoan cường của đất lửa Vĩnh Lộc gồm 25 nữ, 7 nam. Sáng hôm sau, lính địch ở đồn kéo vào kiểm tra, thấy xác chết toàn là dân thường nên chúng quay về và bắt đầu tìm kiếm những người bị thương, xem gia đình nào có người tham gia dân công.

Sau trận mưa đạn đêm 15/6, địch tưởng đã giết hết dân công trung kiên ở vùng Tân Hòa, nhưng chúng không ngờ vẫn còn rất nhiều người thoát được và trở lại với ý chí cách mạng ngày càng mạnh mẽ hơn, tinh thần cách mạng bùng cháy hơn.

Bà Bảy Ôi chia sẻ những người đi về từ cõi chết, hơn ai hết họ thấm thía nỗi đau mất đồng đội, thấm thía sự bạo tàn của quân thù. Như chị Phạm Thị Nàng, người chứng kiến đồng đội chết trong vòng tay của mình, khi bị giặc bắt và tra tấn dã man nhưng vẫn một lòng kiên trung với cách mạng.

Chiến tranh đã qua đi, 32 dân công hỏa tuyến Vĩnh Lộc mãi mãi không trở về, nhưng ký ức về những người con ưu tú của đất nước không phai mờ trong tâm trí những người còn lại, của thế hệ hôm nay và mai sau./.


Tối chủ nhật, 1/9/1968, chương trình Câu lạc bộ âm nhạc tại Hà Nội giới thiệu 3 ca khúc mới: Tiếng đàn Ta lư của Huy Thục, Chiến thắng cầu chữ Y của Ca Lê Thuần và Cô gái Sài Gòn đi tải đạn của Lư Nhất Vũ. Tiếng hát Vũ Dậu (mẹ của nhạc sĩ Ngọc Châu và ca sĩ Khánh Linh) cất lên với ca từ vui tươi “Chim kêu ven rừng suối gọi ta lên đường nặng trĩu hai vai, hoa mai vàng chen lá ngụy trang…”, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn nhanh chóng trở thành ca khúc “hit” lúc bấy giờ…

Hơi thở mùa Xuân 68

Lúc đó Lư Nhất Vũ đang được biết đến như một nhạc sĩ tài năng đến từ miền Nam (năm 19 tuổi ông cùng 300 học sinh miền Nam từ giã gia đình, bất chấp mọi hiểm nguy vượt tuyến ra Bắc - 1955) và đã có nhiều sáng tác được chú ý như Bài ca giã từ, Mồ chiến sĩ… Tuy vậy, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn sẽ chưa được ra đời nếu như thiếu vắng hơi thở mùa Xuân Mậu Thân 1968. Thời điểm ấy, nhiều bài hát được sáng tác trong đợt Mậu Thân, gây “bão” ở khắp nơi, như Đô thành nổi dậy (Đỗ Nhuận), Tiến lên chiến sĩ đồng bào (thơ chúc mừng năm mới của Hồ Chủ tịch, Huy Thục phổ nhạc), Sài Gòn quật khởi (Hồ Bắc), Bão nổi lên rồi (Trọng Bằng), Chào anh giải phóng quân, Chào mùa Xuân đại thắng (Hoàng Vân), Sài Gòn tiến quân (Nguyễn Đồng Nai), Cô du kích Đà Nẵng (Thanh Anh), Tiến về thành Huế (Trần Hoàn)... Trong khi đó Lư Nhất Vũ, người con miền Nam, lại chưa có sáng tác nào cho giai đoạn này.

Cô gái sài gòn đi tải đạn của bình thường

Nhạc sĩ Lưu Nhất Vũ

Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ kể lại: “Các chú, các má và anh chị trong Hội đồng hương Sài Gòn - Chợ Lớn (tại Hà Nội) mỗi lần gặp tôi đều thúc giục: Có bài hát về Mậu Thân ở Sài Gòn chưa? Mấy ông nhạc sĩ chưa hề biết về Sài Gòn, vậy mà bài hát của họ nghe đã quá!”. Đó thật sự là một thách thức. Thời điểm sau đợt 1 cuộc tổng tiến công, Lư Nhất Vũ được điều động vào tổ công tác chi viện cho chiến trường B. Vì thế ông phải thường xuyên lên miền núi tuyển chọn diễn viên về bổ sung cho Đoàn ca múa Tây Nguyên, đồng thời cùng các đồng đội gấp rút làm đề án củng cố Đoàn văn công Sư đoàn 330 tập kết. Nhưng một sáng tác để nói về Mậu Thân thì đúng là ông cần phải có, phải làm nhưng làm như thế nào? Thời điểm ấy, đã có quá nhiều sáng tác nổi bật nói về Mậu Thân, biết “lẩy” ý nào?

Tình cờ đọc báo thấy nói về các cô gái Sài Gòn thuộc nhiều thành phần (học sinh, sinh viên, thợ thuyền, buôn gánh bán bưng...) hăng hái thoát ly gia đình, vào chiến khu tham gia Đoàn Thanh niên Xung phong hỏa tuyến... Những tiểu thư vai yếu chân mềm không ngại hy sinh, gian khổ, băng qua mưa bom bão đạn để tải từng viên đạn cho pháo binh... Và thế là ý tưởng về “Đội nữ tải đạn Sài Gòn” hình thành.

Mất nhiều ngày “rị mọ” tại căn nhà 7C ngõ Trung Tiền, Khâm Thiên (Hà Nội), cuối cùng nhạc sĩ Lư Nhất Vũ cũng hoàn thành bản thảo. Viết xong, ông đạp xe vào Cầu Giấy nhờ nhạc sĩ Nhật Lai góp ý. Sau khi xem xong và chơi thử bằng cách huýt sáo và đàn piano, Nhật Lai khuyên Lư Nhất Vũ thêm đoạn cao trào trước khi chuyển sang điệp khúc. Chiều hôm sau ở phòng làm việc của cơ quan tại 32 Nguyễn Thái Học (khi đó là Trường âm nhạc Việt Nam), nhạc sĩ Lư Nhất Vũ vừa đàn vừa hát ca khúc mới ra lò trước khán giả đầu tiên là các nhạc sĩ Đào Trọng Từ, Trần Tất Toại cùng nghệ sĩ piano Ánh Nguyệt. Buổi “tổng duyệt” khá thành công và mấy ngày sau, báo Nhân Dân đăng bài hát này với nhan đề Đội nữ tải đạn Sài Gòn. Sau đó nhạc sĩ Triều Dâng cùng Lư Nhất Vũ và Lê Lôi quyết định đổi tên thành Cô gái Sài Gòn đi tải đạn. Thú vị là việc đổi tên bài hát được quyết định sau khi cả 3 nhạc sĩ vừa nhảy xuống hầm trú ẩn trước sân Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN), 58 Quán Sứ, khi nghe còi báo động.

Cô gái Sài Gòn đi tải đạn có giai điệu trẻ trung, tự nhiên, tiết tấu hơi nhanh, diễn tả vẻ hồn nhiên, nhí nhảnh, sôi nổi của những cô gái tuổi đời còn rất trẻ và làm những công việc rất gian lao. Giai điệu có hơi hướng Nam Bộ và lời ca đời thường, rất dễ ngấm. Để phổ biến kịp thời, Ban biên tập Đài TNVN định thu thanh do tốp nữ của đài với phần đệm của đàn accordeon. Nhạc sĩ Triều Dâng thì đề nghị đưa bài hát này cho tốp nữ của Đoàn ca múa Trung ương với dàn nhạc dân tộc nhưng thời điểm ấy thì đành phải chờ vì đoàn này đang lưu diễn ở Nhật.

Đến cuối tháng 8/1968, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn mới được thu thanh. Nhạc sĩ Nguyễn Chính viết phần đệm và ca sĩ Vũ Dậu lĩnh xướng. Sau khi phát sóng, chỉ một thời gian ngắn, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn đã “bay” đi khắp nơi. Rất nhiều thư yêu cầu của thính giả tới tấp gửi về Đài TNVN, yêu cầu được nghe lại trong chương trình “Ca nhạc theo yêu cầu thính giả”. Rồi nhiều đoàn văn công đã đưa bài hát lên sân khấu trình diễn, đều dưới hình thức tốp ca nữ.

Cô gái sài gòn đi tải đạn của bình thường

Bài Cô gái Sài Gòn đi tải đạn

Từ điệu hát quê hương

Nhạc sĩ Lư Nhất Vũ kể lại trong cuốn sách Nhạc và Đời (nhiều nhạc sĩ, xuất bản 1989) rằng Cô gái Sài Gòn đi tải đạn là một món quà cho quê hương miền Nam, mang theo tình thương yêu của người thân, ký ức sâu sắc của quê nhà và sự mong mỏi đợi chờ, niềm tin yêu hò hẹn. Tháng 4/1970 ông từ Ga Hàng Cỏ rời miền Bắc vào Nam chiến đấu. Ông viết “Mười lăm năm sau có người lính trở về với trái tim của một nhạc sĩ nồng nhiệt và đầy hứa hẹn. Tôi không thể rước về một cô dâu đất Thăng Long, mà chỉ mang theo một Cô gái Sài Gòn đi tải đạn. Cô gái này dẫu sinh ra từ Hà Nội song vẫn mang dòng máu bắt nguồn từ điệu hát quê hương cùng hơi thở của mùa Xuân năm 1968”.

120 ngày đi B của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ đầy vất vả. Có những lúc bị rắn cắn tưởng chết, một vài người bạn ở Hà Nội tưởng ông hy sinh đã để khăn tang. Nhưng sau 15 ngày “tôi gỡ ra từng miếng da chân đen ngòm”. Và rồi những cơn sốt rét ập tới “đánh gục tôi hôn mê bất tỉnh”. Tin truyền ra Hà Nội: Lư Nhất Vũ lại hy sinh. Một người bạn của ông đã lập bàn thờ, trên bàn thờ là tờ nhạc bướm Cô gái Sài Gòn đi tải đạn viền vải đen quàng chéo. Từ Đài TNVN, nhạc sĩ Triều Dâng, như đã hứa với Lư Nhất Vũ nếu anh hy sinh, đã cho phát liên tục ca khúc này và ai cũng tin rằng chàng nhạc sĩ tài năng, khi ấy chỉ vừa 34 tuổi, đã qua đời. Nhưng rồi thì “coi vậy mà sống dai. Trọng tài vừa đếm đến tiếng thứ chín thì tôi lồm cồm bò dậy. Thần Chết la làng rồi bỏ chạy” - nhạc sĩ đùa tếu.

Có một chi tiết ít người biết là sau năm 1975, ca khúc này cùng một loạt bài cách mạng khác như Đường chúng ta đi, Bài ca hy vọng, Nhớ, Bóng cây K’nia… được bà Sáu Liên, chủ hãng đĩa Việt Nam vốn rất nổi tiếng ở miền Nam, thu âm vào cassette với phần phối âm mới khá sốc (rock), đã thay đổi “diện mạo” của những ca khúc này. 7 cuốn cassette đã bán rất chạy nhưng sau đó thì ngưng lại. Và đến giờ ít ai còn sở hữu được những sản phẩm này.

(Nguồn: http://thethaovanhoa.vn)