Tiếng Việt thực hành Đại học là gì

đề cương môn học tiếng việt thực hành

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (248.19 KB, 11 trang )

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC
TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH

A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU :
1. Bồi dưỡng cho sinh viên tình cảm yêu quý và thái độ trân trọng đối với
tiếng Việt, một di sản văn hóa quý báu của cha ông. Đồng thời rèn luyện thói
quen và ý thức thường xuyên sử dụng tiếng Việt một cách cẩn trọng, có sự cân
nhắc, lựa chọn thấu đáo.
2. Tiếp tục nâng cao những hiểu biết có cơ sở khoa học về tiếng Việt. Điều
này cần thiết cho việc sử dụng tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, nhất là trong
hoạt động giao tiếp bằng văn bản (tạo lập và lĩnh hội văn bản). Đây là một mục
tiêu rất cơ bản của môn tiếng Việt thực hành ở bậc Đại học.
3. Rèn luyện tư duy khoa học cho sinh viên, rèn luyện kỹ năng sử dụng
tiếng Việt còn là cơ sở để sinh viên học tập và nghiên cứu ngoại ngữ, một công
cụ cần thiết cho học tập, nghiên cứu khoa học và làm việc. Bộ môn tiếng Việt
thực hành, vì thế còn có mục tiêu tạo nên sự tương tác, hỗ trợ môn tiếng Việt và
môn ngoại ngữ.
B. KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY

Chương Bài giảng Số tiết
1 Chính tả 4
2 Dùng từ 4
3 Viết câu 4
4 Dấu câu 4
5 Dựng đoạn 4
6 Văn bản 4
Thực hành Bài tập ứng dụng và ôn tập 6

Tổng cộng 30

C. CHƯƠNG TRÌNH :



CHƯƠNG I
CHÍNH TẢ
I. Định nghĩa thuật ngữ
II. Viết dấu hỏi, dấu ngã
1. Học thuộc lòng
1
2. Dùng mẹo luật
III. Viết nguyên âm, phụ âm :
1. Học thuộc lòng
2. Dùng mẹo luật
2.1. Luật “
Giao Tranh Cho Tôi Cầm”
2.2. Luật “
Dặn Đến Nhà Thương”
3. Theo truyền thống và quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo.
IV. Viết tên riêng nước ngoài, viết hoa, viết tắt
V. Kết luận
1. Nguyên nhân sai chính tả
2. Biện pháp khắc phục
VI. Bài tập

CHƯƠNG II
DÙNG TỪ

I. Dùng từ đúng
1. Dùng từ đúng âm.
2. Dùng từ đúng nghĩa.
II. Dùng từ hay
1. Dùng từ chính xác.


2. Dùng từ hình tượng
3. Dùng từ sáng tạo
III. Kết luận

CHƯƠNG III
VIẾT CÂU

I. Phân loại câu
1. Câu đơn
2. Câu ghép
II. Viết câu hay
3. Câu chặt chẽ, mạch lạc.
4. Câu chính xác, rõ ràng.
5. Câu hùng hồn, mạnh mẽ.

2
III. Chữa câu sai
1. Câu sai về cấu trúc
2. Những loại câu khác

CHƯƠNG IV
DẤU CÂU

I. Các loại dấu câu và ký hiệu dùng cho dấu câu.
II. Chức năng chung của hai nhóm dấu câu
1. Dùng các dấu chấm câu thuộc nhóm dấu phân cách một lần để phân
cách các đơn vị ngữ pháp có quan hệ đẳng lập.
2. Dùng dấu câu thuộc nhóm dấu tách biệt hai lần để tách trọng ngữ,
phân biệt lập hoặc phần chú thích một cụm chủ vị.
III. Các sử dụng từng dấu câu cụ thể


1. Các dấu chấm câu
2. Các dấu giữa câu
3. Các dấu có nhiều vị trí
IV. Bài tập

CHƯƠNG V
DỰNG ĐOẠN

I. Khái niệm về đoạn
II. Cấu trúc của đoạn văn
1. Câu mở đoạn, câu thân đoạn, câu kết đoạn.
2. Câu chủ đề
III. Liên kết câu
1. Phương thức liên kết
2. Quan hệ ý nghĩa
IV. Năm mẫu đoạn đơn giản
1. Mẫu căn bản
2. Mẫu liệt kê
3. Mẫu liệt kê có chủ đề
4. Mẫu hỗn hợp liên tục
5. Mẫu hỗn hợp gián đoạn
V. Bài tập
3
CHƯƠNG VI
VĂN BẢN

I. Khái niệm về văn bản
1. Định nghĩa
2. Đặc trưng cơ bản
3. Các phép liên kết văn bản thường gặp


II. Các phong cách văn bản
1. Văn bản hành chính
2. Văn bản chính luận
3. Văn bản khoa học
4. Văn bản nghệ thuật
III. Xây dựng lập luận phục vụ chủ đề văn bản.
IV. Tóm tắt văn bản
V. Bài tập


4

CHƯƠNG 2
DÙNG TỪ

Từ là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định,
được người nói, người viết dùng để đặt câu. Vì vậy, nói đến việc rèn luyện kỹ
năng nói và viết, trước hết phải nói đến nghệ thuật dùng từ đúng hay sai.
I. DÙNG TỪ ĐÚNG.
Dùng từ đúng là dùng từ đúng âm và đúng nghĩa.
1. Dùng từ đúng âm.
Muốn dùng từ đúng âm thì ta phải biết cách phát âm chuẩn. Nhưng nói
cho chuẩn cả tiếng Việt là một yêu cầu gần như không thể thực hiện mọi người
dân khắp cả ba miền.
Trên lý thuyết chuẩn phát âm phải được giải quyết trước chuẩn chính tả.
Vậy viết đúng chính tả là một biện pháp người dùng từ đúng âm.
Hiểu nghĩa của từ, ta sẽ hạn chế được phần nào lỗi dùng từ không đúng âm.
Ví dụ :

Đúng âm Không đúng âm


Biểu ngữ Biển ngữ
Cảm khái Cảm khoái
Thủy mặc Thủy mạc
Hoặc phải theo cách phát âm đã được phổ biến
Ví dụ :

Đúng âm Không đúng âm
Bạc mệnh Bạc mạng
Chung cư Chúng cư
Phiêu bạt Phiêu bạc
Nếu trong thực tế còn tồn tại 2 cách phát âm mà ta chưa căn cứ vào từ
nguyên hoặc quần chúng để xác định một âm chuẩn, ta chấp thuận cả hai cách
phát âm ấy. Tình trạng nầy ngôn ngữ học gọi là
lưỡng khả.
Ví dụ :

Chuẩn ? Không chuẩn ?
Cọng hòa Cộng hòa
Phản ảnh Phản ánh
Sát nhập Sáp nhập
5
Sứ mệnh Sứ mạng
Cuối cùng, không nói tắt, không thay đổi trật tự các từ trong từ ghép hoặc
từ tổ (nhóm từ) cũng là điều cần lưu ý để tránh lỗi dùng từ không chuẩn.
Ví dụ :

Chuẩn Không chuẩn
Cục đào tạo và bồi dưỡng Cục bồi dưỡng
Dân chi phụ mẫu Phụ mẫu chi dân
Xa xôi Xôi xa


2. Dùng từ đúng nghĩa .
Nghĩa của từ được nêu rõ trong từ điển. Vì vậy sử dụng thường xuyên từ
điển vẫn là yêu cầu được đặt ra cho người làm công tác văn hóa giáo dục, cũng
như sinh viên, học sinh để rèn luyện kỹ năng dùng từ.
Gặp một từ không hiểu nghĩa, ta phải chịu khó tra tự điển, không nên
đoán mò, không nên dùng từ Hán Việt theo thói quen. Không nên hiểu lờ mờ.
Chú ý kho từ vựng thường có một số từ đồng âm dị nghĩa tương đối.
II. DÙNG TỪ HAY.
Có nhiều cách dùng từ hay. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu một số trường hợp
tiêu biểu.
1. Dùng từ chính xác.
Dùng từ đúng cũng là dùng từ hay nếu từ ấy là từ chính xác - từ không thể
thay thế bằng bất kỳ từ nào khác.
La Bruyère, một nhà văn Pháp sống trong thế kỷ XVII, đã có ý nghĩ :
“Trong số hết thảy các từ ngữ có thể diễn được một ý độc nhất của ta, chỉ có
một từ ngữ đúng, khi nói hoặc viết, người ta không luôn luôn kiếm thấy nó đâu,
nhưng nó vẫn có”
Gustave Flaubert, một nhà văn Pháp khác sống ở thế kỷ XIX, cũng có ý
tưởng tương tự: “Dù ta muốn nói điều gì đi nữa, cũng chỉ có mỗi một tiếng để
diễn điều đó thôi, chỉ có một động từ để làm cho điều đó hóa ra có sinh khí và
mỗi một trạng trừ để tả nó. Cần phải kiếm cho được tiếng ấy và đừng lấy làm
mãn ý khi mới kiếm được những tiếng tương tự”.
Thi hào Việt Nam là Nguyễn Du, trong Truyện Kiều, đã nhiều lần chứng
tỏ mình là một bậc thầy về nghệ thuật dùng từ chính xác. Dưới đây là một vị dụ :
“Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay”
6
Hai câu thơ này tả tâm trạng Thúc Sinh trong tiệc tẩy trần do Hoạn Thư
bày ra với mục đích làm khổ tình địch và làm nhục chồng mình. Thấy người yêu
trở thành đứa ở và đang bị vợ đày đọa, Thúc Sinh giả say không muốn uống


rượu nữa để chấm dứt thảm kịch. Thấy vậy, Hoạn Thư nổi máu ghen “vội thét
con Hoa (tên mới của Thúy Kiều), khuyên chàng chẳng đặng thì ta cho đòn”.
Trong tình huống ấy, Thúy Kiều nâng chén rượu, mời và Thúc Sinh phải ngậm
đắng nuốt cay mà “ráo ngay”. “Ráo ngay” chứ không thể là “uống ngay” hoặc
“cạn ngay”. Phải “ráo ngay” mới lột tả được tâm lí của một Thúc Sinh nhát
gan, hèn yếu, sợ vợ.
Đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng
ta gặp bài học sinh động về nghệ thuật dùng từ chính xác trong văn chính luận.
Mở đầu văn kiện lịch sử này, Bác Hồ viết : “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta
đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta cần nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn
tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”
Ta “muốn hòa bình” chứ không phải “yêu hòa bình”, “mong hòa bình”,
vì “muốn” vừa diễn tả nguyện vọng, vừa bày tỏ ý chí và quyết tâm, rất thích
hợp với khẩu chí của nhà cách mạng. Ta “nhân nhượng” mà không “nhượng
bộ” vì “nhân nhượng” là cách xử sự hợp lí, hợp tình của người có đạo đức, có
nhân nghĩa, còn “nhượng bộ” là “chịu để cho đối phương lấn tới, vì yếu thế hay
do không kiên quyết”. Địch “lấn tới” chứ không phải là “tiến tới”, vì “tiến tới”,
vì “tiến tới” là thái độ chính đáng, đường hoàng của người biết hành động theo
lí tưỡng, có mục đích, còn “lấn tới” là hành vi xấu xa của kẻ không có gì ngoài
sức mạnh thô bạo. “Lấn tới” chính là thủ đoạn của bọn thực dân “cướp nước”.
Trong văn bản này, người đọc còn tìm gặp một câu mói thống thiết mà
quyết liệt : “Hỡi đồng bào ! Chúng ta phải đứng lên!”.
“Phải đứng lên” khác “hãy đứng lên”. Nói “hãy đứng lên” là khuyên
nhủ, là kêu gọi. Nói “phải đứng lên” là ra lệnh chiến đấu một mất một còn với
giặc. Giặc đã dồn ta đến chân tường. ta chỉ còn một con đường là đứng lên, cầm
vũ khí để tự vệ.
Trong một tình thế vô cùng khẩn trương mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn
dùng thì giờ cân nhắc, tính toán để sử dụng từ ngữ một cách chính xác như vậy.
Lẽ nào bạn trẻ chúng ta lại dùng một cách tùy tiện khi làm văn trong lớp học,
trong giảng đường?


2. Dùng từ hình tượng.
7
Từ hình tượng vẽ lên trước mắt người đọc bức tranh của cuộc sống, tạo
cho người đọc cái cảm giác được nhìn thấy tận mắt sự vật được miêu tả.
Với đặc tính nầy ngoài chức năng thông báo, từ hình tượng còn tạo cho
độc giả nhiều rung cảm thẩm mỹ. Vì vậy từ hình tượng rất thích hợp với ngôn
ngữ văn chương. Tuy thế, trong văn chính luận, nếu được sử dụng chừng mực
và đúng chỗ, từ hình tượng cũng có thể tác động mạnh đến người đọc và để lại
cho đọc giả nhiều cảm nghĩ sâu lắng.
Đặc trưng của từ hình tượng là gợi chứ không tả. Tả thì chính xác, đầy đủ
và rõ ràng đến mức không còn gì để nói nữa. Nhưng gợi thì muốn nói đến vô
cùng. Với đặc điểm này, từ hình tượng tạo cho văn bản một ý ngoài lời, một
nghĩa ở chiều sâu, một nội dung ở dạng tiềm năng. Bài thơ, vì vậy, có thể có
nhiều tầng nghĩa mà không một ai có thể đọc và hiểu hết trong một lần. Mỗi
người, khi đọc những tác phẩm văn chương có ngôn ngữ hình tượng, có thể tìm
gặp ở đó một nét nghĩa mới. Nhờ vậy, đối với mỗi người, mỗi thời, thơ có thể có
một tiếng nói mới. Thơ có sức sống, thơ trẻ mãi với cuộc đời, với thời gian.
Ví dụ : Khi bình giảng bài thơ Bóng cây kơ-nia, nhà phê bình văn học
Phan Trọng Luận đã tìm thấy ở hình tượng cây kơ-nia thế lực chủ động của
nam, tính. Cây kơ-nia là người con cường tráng của mẹ, là người chồng dũng
cảm của em. Sau Phan Trọng Luận, đọc lại hai khổ thơ đầu của bài thơ :
Buổi sáng em làm rẫy
Thấy bóng cây kơ-nia
Bóng ngã che ngực em
Về nhớ anh không ngủ
Buổi chiều mẹ lên rẫy
Thấy bóng cây kơ-nia
Bóng tròn che lưng mẹ
Về nhớ anh mẹ khóc
chúng ta có thể tìm gặp ở hình tượng văn học này một nét nghĩa mới: cây kơ-nia


là anh, là bóng mát của cuộc đời mẹ và cuộc đời em …
Từ hình tượng tạo cho bài thơ một nét nghĩa nhòe. Nhờ vậy, thơ hay, thơ
có tứ hiểu theo nghĩa là ý cao, tình đẹp ẩn giấu ở đằng sau ngôn ngữ văn
chương. Giả thiết rằng, miêu tả sự việc Thúy Kiều vượt qua hàng rào để tìm đến
với Kim Trọng, Nguyễn Du viết :
Xắn tay bẻ cái hàng rào,
Rẽ cây trông tỏ lối vào nhà Kim.
8
Hai câu thơ này có nghĩa mà không có tứ, vì ngoài việc thông báo sự kiện,
nó không gợi được ở người đọc những ý tưởng sâu sắc, nhưng rung cảm thẩm
mĩ. Sự thật là thi sĩ tài hoa Nguyễn Du đã dùng ngôn từ hình tượng để gợi tả sự
việc vừa nêu trên.
Xắn tay mở khóa động đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai…
“Khóa động đào”, “mây”, “lối vào thiên thai” là những hình tượng văn
học hòa hợp cùng nhau, hô ứng với nhau để nói với người đọc của nhiều thế hệ
biết bao điều về tình yêu, về người yêu, về hạnh phúc của những kẻ đang yêu, và
về tấm lòng nhân đạo rộng mở của thi tài Nguyễn Du vào đầu thế kỷ XIX…
3. Dùng từ sáng tạo.
Từ sáng tạo là từ gọi tên sự vật lần thứ nhất, bằng cái nhìn tươi mát và hồn
nhiên như trẻ thơ.
Cuộc sống có nhiều màu vẻ. Đời người đổi thay không ngừng. Nhưng hầu
hết từ ngữ mà ta đang dùng đều quá cũ, vì đã được dùng đi dùng lại nhiều lần từ
lâu. Do vậy, có lúc ta nhận thấy những từ ngữ có được bằng thói quen, bằng
kinh nghiệm của mình, không còn đủ hiệu lực để diễn đạt một tình ý nào đó. Vì
vậy ta muốn vượt qua ngoài quy ước đã có, muốn nhìn sự vật bằng đôi mắt của
trẻ thơ, muốn táo bạo dùng một từ sáng tạo.
Từ “ngon” được Nguyễn Gia Thiều dùng cho “đẹp” trong Cung oán
ngâm khúc là một ví dụ. Ta thường nói cảnh đẹp, hoa đẹp, người đẹp. Lại nói
tình hay ý đẹp. Cái gì cũng đẹp, cho nên “đẹp” không diễn tả được điều gì đặc


sắc. Trong Cung oán ngâm khúc, để tả sắc đẹp của cung nữ, Nguyễn Gia Thiều
viết :
Đóa lê ngon mắt cửu trùng,
Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu.
Trước và sau Nguyễn Gia Thiều, mọi người đều nói “đẹp mắt”, “đẹp
lòng”. Một cách sáng tạo và độc đáo, Nguyễn Gia Thiều nói “ngon mắt”. Sống
trong cung vua phủ chúa, chứng kiến cảnh sống bi thương của hàng trăm người
thiếu nữ má đào mà phận bạc, nhà nghệ sĩ giàu lòng nhân ái Nguyễn Gia Thiều
không khỏi sinh tâm oán trách cảnh sống xa hoa, dục lạc của đấng quân vương.
Cho nên nhà thơ đã hạ một từ “ngon” để phơi bày những ham muốn vật chất
thấp hèn đang được che giấu ở đằng sau những lớp vàng son lộng lẫy.
9
Cần nhớ: Sáng tạo nhưng không lập dị. Sáng tạo để được mới lạ và độc
đáo. Cái mới hình thành từ cái cũ. Trái nền cái cũ mà người xây dựng các công
trình mới.
Nhà nghệ sĩ sáng tạo nói chung, dùng từ sáng tạo nói riêng không hoàn
toàn tách rời truyền thống và thực tại.
Ví dụ : Thời gian không có màu, nhưng mùa thu có nhiều lá vàng nên các
nhà văn, thơ đã dùng từ “thu vàng” một cách sáng tạo. (Xuân Diệu: dùng từ
Xuân Hồng nói về tuổi trẻ, về mùa xuân, về tình yêu; Trịnh Công Sơn thì dùng
từ “Hạ trắng” để chỉ mùa hè xứ Huế với những con đường ngập đầy áo dài trắng
của nữ sinh Đồng Khánh).
III. KẾT LUẬN :
Chúng ta bắt đầu học cách dùng từ đúng, rồi tập cách dùng từ hay, nhưng
mục đích cuối cùng vẫn là luyện cho được cách viết tự nhiên, giản dị. Tự nhiên
và giản dị là đỉnh cao của nghệ thuật.
BÀI TẬP.
1. Phân biệt nghĩa một số từ Hán Việt sau đây :
Áo và xiêm, bãi công và lãn công, bất hủ và bất tử, biến cố và sự cố, cổ
nhân và cố nhân, cổ động và sách động, cô độc và cô đơn, công nhân và nhân


công, quản chế và quản thúc, văn chương và văn học, văn hóa và văn minh./.
2. Bài tập về dùng từ số 1, 2, 3, 4.
3. Bài tập ôn về chính tả và dùng từ.


10


11

Giáo trình Tiếng Việt thực hành - Đại học Sư phạm Hà Nội

"Giáo trình Tiếng Việt thực hành" được biên soạn bởi trường Đại học Sư phạm Hà Nội cung cấp kiến thức các cách phân loại vốn từ tiếng Việt, lịch sử vấn đề từ loại tiếng Việt, phân chia từ loại tiếng Việt, thực từ và hư từ, hệ thống từ loại tiếng Việt, động từ, tính từ, đại từ, số từ, phụ từ, quan... » Xem thêm

Chủ đề:

Download

Xem online

Tóm tắt nội dung tài liệu

  1. tiếng Việt thực hành Biên tập bởi: Đại học sư phạm Hà Nội
  2. tiếng Việt thực hành Biên tập bởi: Đại học sư phạm Hà Nội Các tác giả: Đại học sư phạm Hà Nội Phiên bản trực tuyến: http://voer.edu.vn/c/4491bb06
  3. MỤC LỤC 1. Giới thiệu chung 2. Các cách phân loại vốn từ tiếng Việt 3. Lịch sử tiếng việt 4. Phân chia từ loại tiếng Việt 5. Thực từ và hư từ 6. Hệ thống từ loại tiếng Việt 7. Động từ 8. Tính từ 9. Đại từ 10. Số từ 11. Phụ từ 12. Quan hệ từ 13. Tình thái từ 14. Hiện tượng chuyển loại của từ 15. Một số điểm cần lưu ý 16. Bài tập thực hành Tham gia đóng góp 1/67
  4. Giới thiệu chung Mục tiêu cần đạt - Có những hiểu biết cơ bản về lịch sử vấn đề từ loại tiếng Việt; - Nắm được các các tiêu chí phân chia từ loại tiếng Việt theo quan điểm của giáo trình; - Nắm được hệ thống từ loại tiếng Việt; - Có khả năng vận dụng các kiến thức đã học về từ loại để giải quyết các vấn đề có liên quan. Điều kiện tiên quyết - Sinh viên đã hoàn thành các đơn vị kiến thức: Dẫn luận ngôn ngữ học, Ngữ âm học, Từ vựng - Ngữ nghĩa học, Đại cương về Ngữ pháp; - Sinh viên đọc giáo trình và các tài liệu tham khảo. Đề cương bài giảng Các quan niệm về từ loại tiếng Việt Các cách phân loại vốn từ tiếng Việt Lịch sử vấn đề từ loại tiếng Việt Kết quả phân chia từ loại tiếng Việt theo các quan niệm khác nhau Hệ thống từ loại tiếng Việt Thực từ và hư từ Các từ loại thực từ Danh từ Số từ Động từ 2/67
  5. .Tính từ Đại từ Các từ loại hư từ Phụ từ Quan hệ từ Tình thái từ Hiện tượng chuyển loại từ Tài liệu tham khảo 1. Diệp Quang Ban - Hoàng Dân, Ngữ pháp tiếng Việt (Sách dùng cho hệ Cao đẳng sư phạm), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000. 2. Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung, Ngữ pháp tiếng Việt, tập một, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998. 3. Lê Biên, Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999. 4. Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb ĐHQGHN, 1999. 5. Cao Xuân Hạo, Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (quyển 2), Ngữ đoạn và Từ loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005. 6. Nguyễn Anh Quế, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996. 7. Nguyễn Thị Quy, Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (Vị từ hành động), Nxb KHXH, 1995. http://ngonngu.net/index.php?fld=nnh&sub=nguphap&pst=tuloai_nhc http://ngonngu.net/index.php?fld=nnh&sub=nguphap&pst=hutu_HV 3/67
  6. Các cách phân loại vốn từ tiếng Việt Các quan niệm về từ loại tiếng Việt Các cách phân loại vốn từ tiếng Việt Trả lời câu hỏi Từ nhanh và từ mĩ lệ có những điểm nào khác nhau, những điểm nào giống nhau? Khác nhau: - Về âm thanh và cấu tạo : nhanh là từ một tiếng, còn mĩ lệ là từ nhiều tiếng, hơn nữa mỗi từ có thành phần âm thanh (các phụ âm, nguyên âm, thanh điệu) khác nhau. - Về nghĩa từ vựng (tạm thời giới hạn trong nghĩa gốc): từ nhanh chỉ đặc điểm về tốc độ của hoạt động (trên mức trung bình), còn từ mĩ lệ chỉ đặc điểm về hình thức của sự vật (đẹp). - Về nguồn gốc: nhanh là một từ Việt. còn mĩ lệ là từ gốc Hán. Nhanh là một từ đa phong cách, trong khi mĩ lệ thiên về phong cách văn chương.... Giống nhau : Về các phương diện trên. nhanh và mĩ lệ không cùng một loại, một hệ thống. Nhưng nếu xem xét về đặc điểm ngữ pháp thì hai từ đó lại có nhiều điểm giống nhau : + Cả hai đều có ý nghĩa thuộc phạm trù nghĩa khái quát chỉ đặc điểm + Cả hai đều có thể đóng vai trò trung tâm của một cụm từ chính phụ : kết hợp ở phía trước với phụ từ chỉ mức độ (cực kỳ nhanh, cực kỳ mĩ lệ...) + Cả hai đều có thể làm vị ngữ trong câu một cách trực tiếp : Ví dụ : Nó nhanh lắm. Phong cảnh ở đây thật là mĩ lệ. Nhận xét Số lượng từ trong mỗi ngôn ngữ là rất lớn. Nhưng không phải mỗi từ đều hoàn toàn khác với những từ khác. Vốn từ trong mỗi ngôn ngữ hình thành những loại, những lớp, những hệ thống lớn nhỏ có những đặc điểm giống nhau. Những từ có đặc điểm giống nhau tạo nên một loại . Đặc điểm giống nhau của các từ có thể thuộc về ngữ âm, có thể thuộc về cấu tạo, có thể thuộc về ngữ nghĩa, có thể thuộc về ngữ pháp,… 4/67
  7. Ví dụ: - Dựa vào hình thức âm thanh: các từ giống nhau toàn bộ hay gần toàn bộ về hình thức âm thanh tập hợp thành từ đồng âm hay từ gần âm.- Dựa vào đặc điểm cấu tạo: các từ có cùng một kiểu cấu tạo hợp thành từ đơn, từ ghép (từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ); từ láy (từ láy hoàn toàn, từ láy phụ âm đầu, từ láy bộ phận vần).- Các từ có thể giống nhau về nghĩa, từ đó hình thành các hệ thống ngữ nghĩa với các mức độ lớn nhỏ khác nhau: các từ cùng trương nghĩa, các từ gần nghĩa, các từ đồng nghĩa, các từ trái nghĩa...- Dựa vào nguồn gốc: từ gốc Việt, từ gốc Hán, từ có nguồn gốc Ấn Âu... Khái niệm từ loại Từ loại là lớp các từ có sự giống nhau về các đặc điểm ngữ pháp. Muốn phân định được từ loại thì cần xác định được đặc điểm ngữ pháp của từ. 5/67
  8. Lịch sử tiếng việt Lịch sử vấn đề từ loại tiếng Việt Đọc các tài liệu tham khảo đã cho và trả lời câu hỏi: Các nhà Việt ngữ học có những xu hướng nhìn nhận vấn đề từ loại tiếng Việt như thế nào? Vì sao lại có những quan niệm trái ngược nhau như vậy về vấn đề từ loại tiếng Việt? - Xu hướng 1: phủ nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt . - Xu hướng 2: Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt Nguyên nhân: Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, từ tiếng Việt không biến đổi hình thái trong hoạt động sử dụng ngôn ngữ. Đặc điểm này khiến cho việc xác định từ loại trong tiếng Việt có những điểm khác biệt so với các ngôn ngữ hòa kết (tiêu biểu là các ngôn ngữ Ấn - Âu). Hãy cho biết: Giữa các nhà Việt ngữ học theo xu hướng thừa nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt, quan niệm phân chia từ loại tiếng Việt có hoàn toàn thống nhất không? Hint So sánh các tiêu chí phân chia từ loại tiếng Việt được các tác giả Trương Vĩnh Kí, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân, Lê Văn Lí. Nguyễn Phú Phong, Nguyễn Tài Cẩn,...nêu ra. Có 6/67
  9. Không Sai Đúng Khái quát về lịch sử vấn đề từ loại tiếng Việt Vì tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái nên việc nghiên cứu về từ loại không thể tránh khỏi những ý kiến bất đồng. Có 2 quan điiểm trái ngược nhau trong vấn đề phân chia từ loại tiếng Việt:- Xu hướng 1: phủ nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt .Đó là các tác giả: M.Grammont, Lê Quang Trình, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê." Tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn với ngôn ngữ phương Tây nên không có từ loại..." và "... không nên phân biệt từ loại bởi vì không phân loại được và cũng chẳng để làm gì"( Lịch sử văn chương Việt Nam. 1.Paris. Hồ Hữu Tường) - Xu hướng 2: Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt.Song tuỳ theo quan điểm và tuỳ theo các phương pháp khác nhau, các ý kiến đó tập hợp thành 3 nhóm chính: +Phân loại từ loại xuất phát từ ý nghĩa của từ: Đây là xu hướng của ngữ pháp truyền thống, với các đại diện như Trương Vĩnh Kí, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân… Áp dụng khuôn mẫu sẵn có của ngữ pháp Latinh, họ đã chia vốn từ tiếng Việt theo đúng các từ loại của ngôn ngữ Ấn - Âu. Các nhà ngôn ngữ sau này gọi cách phân chia của buổi đầu nghiên cứu ấy là phân loai từ theo lối “tiên nghiệm chủ nghĩa”.+Phân loại từ loại dựa vào khả năng kết hợp của từ: Đây là xu hướng của nhóm tác giả theo trường phái cấu trúc luận với các đại diện là Lê Văn Lí. Nguyễn Phú Phong, Nguyễn Tài Cẩn.Chịu ảnh hưởng của trường phái cấu trúc luận Mĩ về thế phân bố (chu cảnh), các tác giả đã tiến hành phân loại tiếng Việt dựa vào khả năng kết hợp của từ. Lê Văn Lí trong tác phẩm Le parler vietnamien. Hương Canh. Paris 1948 đã khẳng định “ Chính nhờ sự phân tích tỉ mỉ tất cả các yếu tố của chu cảnh 1 từ trong tất cả các vị trí của nó mà người ta đi tới chỗ xác định được những tiêu chí khu biệt cho phép ta tìm ra các từ, khiến cho 1từ này vì có những tiêu chí này nên không trùng với từ khác vốn có tiêu chí khác.” Những từ dùng để khu biệt từ này với từ khác ông gọi là từ làm chứng ( mots – témoins). + Phân loại từ dựa vào cả ý nghĩa và khả năng kết hợp của từ.Với phương pháp này vốn từ Tiếng Việt được phân loại khá triệt để song nó vẫn không thể rạch ròi 1 số nhóm từ và 1 số tiểu loại trong mỗi nhóm. Nhằm khắc phục điều đó, trong cuốn Văn phạm Việt Nam- NXB Phạm Văn Tươi. Sài Gòn 1952, tác giả Bùi Đức Tịnh đã bổ sung thêm tiêu chí “chức năng mà từ đảm nhận trong câu” nhằm phân định từ loại . 7/67
  10. Phân chia từ loại tiếng Việt Kết quả phân chia từ loại tiếng Việt theo các quan niệm khác nhau Theo quan niệm phân chia từ loại xuất phát từ ý nghĩa của từ Đọc sách Đọc phần tài liệu liên quan đến quan niệm của các tác giả Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỉ Hãy cho biết: theo quan niệm của các tác giả này, hệ thống từ loại tiếng Việt được chia thành bao nhiêu loại? Đó là những loại nào? Các tác giả Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỉ đã chia vốn từ vựng Tiếng Việt thành 13 từ loại như sau • Danh tự : ngựa, cá,người.. • Mạo tự: cái, những, các.. • Loại tự: cây, quả, hoa, cá, chim.. • Chỉ thị tự: nay, này, kia, nào.. • Đại danh tự: tôi, tao, mày nó, ai, gì ,chi… • Tính tự: to, nhỏ, cao ,thấp.. • Động tự: ăn, uống, nói, cười.. • Trạng tự: rất, quá, lắm, thậm, cũng, đều.. • Giới tự: của, bởi, bằng, với… • Liên tự: và, với, cùng, hay, hoặc, vì… • Tán thán tự: chà, a, ô, ôi, hỡi… • Trợ ngữ tự: à, ư, nhỉ, nhé… • Tiếng đệm… Theo quan niệm dựa vào khả năng kết hợp của từ Đọc sách Đọc phần tài liệu liên quan đến quan niệm của tác giả Lê Văn Lí 8/67
  11. Hãy cho biết hệ thống từ loại tiếng Việt được tác giả phân chia như thế nào? Tác giả Lê Văn Lí chia vốn từ tiếng Việt thành 3 nhóm: • Nhóm 1: danh từ • Nhóm 2: động từ và tính từ • Nhóm 3: gồm các nhóm nhỏ sau: từ chỉ ngôi, từ chỉ số lượng và các tiểu từ( nhóm này không có từ chứng) Theo quan niệm dựa vào ý nghĩa, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp của từ Thực hành So sánh hệ thống từ loại tiếng Việt theo quan điểm phân chia của các tác giả: Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban - Hoàng Thung, Lê Biên, Nguyễn Tài Cẩn. Gợi ý: Hãy vẽ sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt theo quan điểm của mỗi tác giả. Kiến thức cần đạt Sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt theo quan niệm của tác giả Đinh Văn Đức Tác giả Đinh Văn Đức (“Ngữ pháp Tiếng Việt” -Từ pháp học. NXB HTHCN.HN.1986. tr100-186) đã chia từ loại tiếng Việt thành 3 nhóm lớn với các tiểu 9/67
  12. loại nhỏ như sau:- Thực từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.- Hư từ: từ phụ, từ nối.- Tình thái từ: tiểu từ, trợ từ. Sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt theo quan điểm của các tác giả Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung Trong cuốn "Ngữ pháp Tiếng Việt”, các tác giả Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung đã chia thành 2 nhóm lớn với các từ loại cụ thể sau:- Thực từ: danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ - Hư từ: phụ từ( định từ, phó từ), kết từ, tiểu từ( trợ từ, tình thái từ) Trong đó số từ và đại từ là trung gian giữa thực từ và hư từ. Sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt theo quan điểm của tác giả Lê Biên 10/67
  13. Sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt theo quan điểm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn 11/67
  14. Thực từ và hư từ Từ loại thực từ và từ loại hư từ Thực từ Ví dụ 1 Hãy nêu ý nghĩa từ vựng khái quát của các từ sau:bàn, ghế, ăn, ngủ, vui, buồn, tốt, xấu... - Các từ bàn, ghế có ý nghĩa từ vựng khái quát là (gọi tên) sự vật; - Các từ ăn, ngủ có ý nghĩa từ vựng khái quát là (gọi tên) hoạt động; - Các từ vui, buồn có ý nghĩa từ vựng khái quát là (gọi tên) trạng thái; - Các từ tốt, xấu có ý nghĩa từ vựng khái quát là (gọi tên) tính chất. Ví dụ 2 Các từ được gạch chân trong ví dụ sau đây giữ vai trò gì trong các cụm từ chính phụ: Những bông sen đẫm sương đêm. - Từ sen giữ vai trò thành tố trung tâm của cụm từ chính phụ những bông sen. - Từ sương giữ vai trò thành tố phụ bổ sung ý nghĩa cho từ trung tâm trong cụm từ chính phụ đẫm sương đêm. Ví dụ 3 12/67
  15. Hãy cho biết các từ được gạch chân trong các ví dụ sau có chức vụ ngữ pháp gì trong câu: a. Chim hót. b. Gió thổi. - Từ chim giữ chức vụ chủ ngữ trong câu Chim hót. - Từ thổi giữ chức vụ vị ngữ trong câu Gió thổi. Định nghĩa Những từ được đề cập đến trong các ví dụ trên được gọi là thực từ. Hãy rút ra những đặc điểm của thực từ. Người ta gọi những từ có ý nghĩa chân thực như từ "nhà" là thực từ. Nhưng thực từ có giá trị đầy đủ và có vị trí độc lập, rõ ràng, không cần bàn cãi. (Nguyễn Văn Tu. "Từ vựng học tiếng Việt hiện đại". Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1968, tr.31) Những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thành phần câu gọi là thực từ. (Nguyễn Kim Thản. "Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt". Tập 1. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963. Tr.147) Từ thực là những từ có khả năng một mình tạo thành câu, một mình làm phần nêu hoặc phần báo trong phần chính của câu; đồng thời có chức năng gọi tên (hoặc trỏ) sự vật, thuộc tính sự vật. (Hồng Dân. "Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, năm 1970. Tr.68) Tiếng độc lập, thực, chính là những yếu tố xưa nay ta thường quen gọi là thực từ. (Nguyễn Tài Cẩn. "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội, 1975. Tr.33) Trong bản thân ý nghĩa của mỗi từ loại, thực từ bao giờ cũng chứa đựng sự thống nhất của các nhân tố "từ vựng" và nhân tố "ngữ pháp". (Đinh Văn Đức. "Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, năm 1978. Tr.39) Thực từ là từ có "nghĩa thực" (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng, loại nghĩa mà nhờ nó có thể làm được sự liên hệ giữa các từ với sự vật, hiện tượng nhất định. Ví dụ: cơm, bánh, ăn, sản xuất, ngon, giỏi, tích cực... Thực từ có thể dùng 13/67
  16. làm phần đề và phần thuyết trong một nòng cốt câu. Với hai thực từ đã có thể cấu tạo được một nòng cốt câu đơn. Ví dụ: Xe // chạy. Lúa // tốt. (UBKHXHVN. "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983. Tr.68) Hư từ Ví dụ 1 Nêu nhận xét về ý nghĩa từ vựng của các từ được gạch chân trong các ví dụ sau đây: a. đang học b. tôi với anh Các từ được gạch chân trong các ví dụ trên không có ý nghĩa từ vựng chân thực, không có khả năng định danh sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất mà chỉ có khả năng làm dấu hiệu bổ sung một số ý nghĩa ngữ pháp cho thực từ. Cụ thể:- Từ đang bổ sung ý nghĩa thời gian hiện tại cho động từ học;- Từ với bổ sung ý nghĩa quan hệ bình đẳng cho các từ tôi - anh. Ví dụ 2 Các từ được gạch chân trong các ví dụ sau có chức năng ngữ pháp như thế nào trong các cụm từ chính phụ và trong các câu? a. đang học bài b. Có lẽ nó đang học bài. - Từ đang không thể làm thành tố chính mà chỉ có khả năng làm thành tố phụ của cụm động từ.- Từ có lẽ là thành phần phụ tình thái trong câu biểu thị sự phỏng đoán, chưa chắc chắn. 14/67
  17. Định nghĩa Những từ được đề cập đến trong các ví dụ trên được gọi là hư từ. Vậy, theo anh, chị, hư từ là gì? Hư từ không có chức năng định danh, không có khả năng độc lập làm thành phần câu, dùng để biểu thị các quan hệ ngữ nghĩa - cú pháp khác nhau giữa các thực từ.(Nguyễn Như Ý chủ biên. "Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học". Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996. Tr.123) Hư từ dùng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp và không có ý nghĩa từ vị.(Nguyễn Văn Tu. "Khái luận ngôn ngữ học". Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1960. Tr.196) Hư từ không tồn tại độc lập nếu không có những thực từ. Tuy vậy, chúng vẫn khác với các từ tố ở chỗ không gắn chặt với thực từ, chúng vẫn có đời sống riêng giữa các thực từ, thậm chí giữa các mệnh đề nữa.Hư từ vẫn biểu thị khái niệm: đó là khái niệm về sự tương quan giữa các sự vật. Bởi vậy, hư từ - là những từ - quan hệ - tuy không làm thành phần của câu nhưng rất cần thiết cho việc xây dựng câu.(Đỗ Hữu Châu. "Giáo trình Việt ngữ". Tập 2 - Từ hội học. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962. Tr.20) Theo nghĩa dùng trong ngôn ngữ học, hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, mà chỉ có tác dụng làm công cụ ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của các từ.(Nguyễn Kim Thản. "Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt". Tập 1. Nxb KHXH, Hà Nội, 1963. Tr.35) Từ hư là những từ không có khả năng một mình tạo thành câu, không có khả năng một mình làm phần nêu hoặc phần báo trong phần chính của câu; đồng thời không có chức năng gọi tên (hoặc trỏ) sự vật, thuộc tính của sự vật, nhưng lại có chức năng làm dấu hiệu của một quan hệ ngữ pháp nào đó, một tình cảm hoặc một thái độ nào đó. (Hồng Dân. "Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, năm 1970. Tr.66) Tiếng độc lập, hư, phần lớn là những yếu tố xưa nay ta thường quen gọi là hư từ (hay từ công cụ). (Nguyễn Tài Cẩn. "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb ĐH và THCN, Hà Nội, 1975. Tr.33) Hư từ là những từ dùng để biểu thị một số những quan hệ cú pháp nhất định. (UBKHXHVN. "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb KHXH, Hà Nội, 1983. Tr.29) Đó là tập hợp không lớn về số lượng các từ, bản chất của ý nghĩa hư từ là tính chất ngữ pháp, là phương tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ. (Đinh Văn Đức. "Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại)". Nxb ĐH và THCN, Hà Nội, 1986. Tr.43) 15/67
  18. Hư từ chân chính thì không thể thay thế bằng từ khác trong một văn cảnh cụ thể được. Thuộc vào đây có các chỉ tố về số (những, các), các mạo từ (mọi, mỗi, từng, cái), các chỉ tố thời gian (đã, sẽ, đang, vừa, mới, từng), hệ từ (là), giới từ (cùng, bằng, với), liên từ (nếu, tuy, nên), liên giới từ (của, vì, bởi). (Nguyễn Minh Thuyết. "Thảo luận về vấn đề xác định hư từ trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, năm 1986. Tr.43). Lưu ý - Sự phân loại thực từ - hư từ chỉ mang tính chất tương đối.- Số lượng thực từ nhiều hơn hư từ nhưng hư từ lại có tần số sử dụng cao hơn. - Trong quá trình sử dụng, có sự chuyển hóa giữa thực từ sang hư từ và ngược lại. 16/67
  19. Hệ thống từ loại tiếng Việt Hệ thống tiếng Việt Sơ đồ khái quát hệ thống từ loại tiếng Việt DANH TỪ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DANH TỪ Danh từ là một từ loại lớn, bao gồm một số lượng từ rất lớn và đóng vai trò quan trọng trong họat động nhận thức, tư duy và giao tiếp của con người. Hoạt động đọc Cho đoạn văn sau: “Tôi lắng nghe tiếng xôn xao từ cánh đồng. Những âm thanh ấy tác động thật mạnh mẽ đến tốc độ chín vàng của lúa. Mới đây thôi đồng lúa phơi một màu vàng chanh , còn lúc này nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.Dường như đồng lúa và mặt trời đang có một sự đua tài thầm kín nào đấy.” SV tìm các DT có trong đoạn văn trên? “Tôi lắng nghe tiếng xôn xao từ cánh đồng. Những âm thanh ấy tác động thật mạnh mẽ đến tốc độ chín vàng của lúa. Mới đây thôi đồng lúa phơi một màu vàng chanh , còn lúc 17/67
  20. này nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.Dường như đồng lúa và mặt trời đang có một sự đua tài thầm kín nào đấy.” Trả lời câu hỏi Em dựa vào những tiêu chí nào để nhận ra DT? Từ đó hãy rút ra đặc điểm của DT? SV xét danh từ trên 3 tiêu chí nhận diện từ loại nói chung:ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp.Cụ thể là: Ý nghĩa khái quát: danh từ là từ thường chỉ sự vật, chỉ người, chỉ hiện tượng tự nhiên - xã hội và các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh thần. VD: cánh đồng, dãy núi, âm thanh,xã hội, tư tưởng... -Khả năng kết hợp: thường kết hợp với từ chỉ lượng ở đằng trước và từ chỉ định ở đằng sau. Tức là,danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh từ. Chức vụ cú pháp: đảm nhận vai trò của các thành phần câu (thành phần chính và thành phần phụ) Phân tích ví dụ Hãy tìm những tổ hợp chứa danh từ để xem xét khả năng kết hợp của danh từ trong đoạn văn trên?. Tôi lắng nghe tiếng xôn xao từ cánh đồng. Những âm thanh ấy tác động thật mạnh mẽ đến tốc độ chín vàng của lúa. Mới đây thôi đồng lúa phơi một màu vàng chanh , còn lúc này nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.Dường như đồng lúa và mặt trời đang có một sựđua tài thầm kín nào đấy.” Thực hành Hãy tìm các thành phần câu mà danh từ ( cụm danh từ) đảm nhận. 18/67

Bài giảng Tiếng Việt thực hành

Nguyễn Duy Xuân

2018-05-13T03:33:26-04:00 2018-05-13T03:33:26-04:00 https://nguyenduyxuan.net/nghien-cuu/bai-giang-tieng-viet-thuc-hanh-56.html https://img.cdnki.com/tieng-viet-thuc-hanh-dai-hoc-la-gi--d386fe69a6240e756d5b1979f823c543.wepb

Nguyễn Duy Xuân https://nguyenduyxuan.net/uploads/logotrong1.png

Chủ nhật - 26/09/2010 23:25

BÀI GIẢNG TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH (tóm tắt)


Ảnh minh họa

MỞ ĐẦU
TIẾNG VIỆT VÀ BỘ MÔN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH

I. Khái quát về tiếng Việt
1. Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt(Kinh), đồng thời cũng là tiếng phổ thông của tất cả các dân tộc anh em sống trên đất nước Việt nam.
Tiếng Việt có lịch sử lâu đời. Ngày nay, tiếng Việt có địa vị ngang hàng với các ngôn ngữ phát triển trên thế giới. Vai trò của tiếng Việt ngày càng cao trên trường quốc tế.
2. Tiếng Việt đã và đang đảm nhiệm các chức năng xã hội trọng đại
- Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất trong xã hội VN hiện nay.
- TV là ngôn ngữ chính thức trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu từ bậc mẫu giáo đến bậc đại học và cao học.
- TV là chất liệu của sáng tạo nghệ thuật-nghệ thuật ngôn từ.
- TV là công cụ nhận thức tư duy của người Việt, mang rõ dấu ấn của nếp cảm, nếp nghĩ và nếp sống của người Việt.
- TV là phương tiện tổ chức và phát triển xã hội.
II. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
1. Truyền thống quí trọng và bảo vệ, phát triển tiếng nói của ông cha.
2. Chúng ta ngày nay phải có tình cảm yêu quí và thái độ trân trọng tiếng nói và chữ viết của dân tộc.
3. Sử dụng tiếng Việt theo các chuẩn mực và sáng tạo.
4. Tiếp nhận có chọn lọc những yếu tố ngôn ngữ bên ngoài
III. Mục tiêu và nhiệm vụ của môn TVTH
- Bồi dưỡng tình cảm yêu quí, thái độ trân trọng đối với TV; rèn luyện thói quen và ý thức sử dụng, giữ gìn sự trong sáng của TV.
- Bồi dưỡng và nâng cao tri thức về TV.
- Rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng TV trong giao tiếp hàng ngày, nhất là trong học tập, nghiên cứu.
- Góp phần rèn luyện tư duy khoa học cho sinh viên.
-------------------------------------

CHƯƠNG I: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG XÂY DỰNG VĂN BẢN

Bài 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN
I. Văn bản là gì?:
1-Khái niệm văn bản:
Văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ thường bao gồm một tập hợp các câu mang tính nhất quán về chủ đề, tính trọn vẹn về nội dung được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm vào một định hướng giao tiếp nhất định.
Văn bản có thể là một câu tục ngữ, một bài ca dao, một lá đơn, một bản báo cáo, một tác phẩm văn học…
2- Khái niệm đoạn văn:
Đoạn văn là bộ phận của văn bản bao gồm một tập hợp câu liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức, thể hiện một tiểu chủ đề trong văn bản và được tách ra khỏi đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm qua hàng, được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa thụt đầu dòng. VD:

Cái thằng dế choắt người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện. Đã là thanh niên rồi mà cách chỉ ngắn ngủn đến giữa lưng, hở cả mạng sườn như người cởi trần mặc áo Gi lê. Đôi càng bè bè, nặng nề trông đến xấu. Râu ria gì mà cụt có một mẩu và mặt mũi thì lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Đã vậy tính nết lại ăn xổi ở thì, có một cái hang ở chỉ bới đất nông sát mặt đất, không biết đào sâu và khoét ra nhiều hang như hang tôi.

II. Những yêu cầu khi tạo lập văn bản:
1-Văn bản phải đảm bảo tính mạch lạc và liên kết:
a-Mạch lạc: là sự thống nhất, liên kết về nội dung, về nghĩa của văn bản. Tính mạch lạc thể hiện ở sự thống nhất về đề tài, nhất quán về chủ đề vàsự chặt chẽ về lôgic.
Sự thống nhất về đề tài thể hiện ở chỗ:
- Phạm vi hiện thực được nhắc đến trong văn bản là nhất quán.
- Hệ thống các từ loại được sử dụng trong văn bản đó chủ yếu là danh từ, ngữ danh từ, đại từ…
Sự thống nhất về chủ đề của văn bản thể hiện ở chỗ:
- Sự nhất quán về quan điểm, hướng đến một đích nhất định ( khẳng định hoặc phủ định, nêu gương hay phê phán).
- Hệ thống các từ loại được sử dụng trong văn bản đó chủ yếu là động từ, tính từ, ngữ động từ, ngữ tính từ.
Trong văn bản, sự chặt chẽ lô gíc thường được đảm bảo bằng hệ thống các từ quan hệ, từ ngữ chuyển tiếp và sự sắp xếp trật tự từ, trật tự câu trong văn bản đó.
Sự thống nhất đề tài, chủ đề và sự chặt chẽ lô gíc sẽ tạo thành tính mạch lạc cho văn bản.
VD: Sau trận mưa rào, mọi vật đều sáng và tươi (1). Những đoá hoa râm bụt thêm màu đỏ chói (2). Bầu trời xanh bóng như vừa được gội rửa (4). Mấy đám mây bông trôi nhởn nhơ, sáng rực lên trong ánh mặt trời (5).
b -Tính liên kết: Văn bản muốn có tính liên kết phải dựa vào các phương tiện liên kết và phép liên kết trong văn bản.
VD: Quan lại vì tiền mà bất chấp công lý(1). Sai nha vì tiền mà tra tấn cha con Vương Ông(2). Tú BaØ, Mã Giám Sinh, Bạc Hạnh Bạc Bà vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người (3). Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm(4). Khuyển Ưng vì tiền mà lao vào tội ác(5). Cả một xã hội chạy theo đồng tiền(6).
2-Văn bản phải có mục đích giao tiếp thống nhất:
3-Văn bản phải có một kết cấu rõ ràng:
4- Văn bản phải có một phong cách ngôn ngữ nhất định
Hai đoạn trích sau đây cho ta thấy rõ sự khác nhau của phong cách ngôn ngữ văn bản:
- Sông Đà dài 910 km, từ Vân Nam vào nước ta theo hướng tây bắc đông nam, gần như song song với sông Hồng. Đoạn chảy ở địa phận nước ta dài trên 500km. qua Lai Châu, dòng sông chảy trong một thung lũng sâu giữa khối cao nguyên đá vôi vùng Tây Bắc nên lắm thác ghềnh và đi qua những hẻm núi hùng vĩ. Đến Hoà Bình, gặp núi Ba Vì, sông quặt lên phía bắc rồi đổ vào sông Hồng ở Trung Hà.(sách Địa Lí)
- Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh Đông tỉnh Vân Nam, lấy tên là Li Tiên mà đi qua một vùng núi ác, rồi đến gần nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hoà vào sông Hồng. Từ biên giới Trung Việt tới ngã ba Trung Hà là 500 cây số lượng rồng rắn, và tính toàn thân sông Đà thì chiều dài là 888 nghìn thước mét. (Nguyễn Tuân)
-------------------------------

Bài 2: PHÂN TÍCH MỘT TÀI LIỆU KHOA HỌC

I. Tìm ý chính của một đoạn văn:
1-Thế nào là ý chính?
VD: Quan lại vì tiền mà bất chấp công lý(1). Sai nha vì tiền mà tra tấn cha con Vương Ông(2). Tú BaØ, Mã Giám Sinh, Bạc Hạnh Bạc Bà vì tiền mà làm nghề buôn thịt bán người (3). Sở Khanh vì tiền mà táng tận lương tâm(4). Khuyển Ưng vì tiền mà lao vào tội ác(6). Cả một xã hội chạy theo đồng tiền(7).
2- Phương pháp tìm ý chính:
VD: Nghệ thuật thơ trong Nhật kí trong tù thật là phong phú (1). Có bài là lời phát biểu trực tiếp, đọc hiểu ngay(2). Có bài lại dùng lời ngụ ngôn rất thâm thúy(3). Đó là cái thâm thúy đầy trí tuệ và hết sức uyên bác của một học giả phương Đông(4). Lại có bài tự sự, có bài trữ tình(5). Lại có bài châm biếm(6).Nghệ thuật châm biếm cũng nhiều vẻ(7). Khi thì tiếng cười mỉa mai(8). Khi thì tiếng cười phẫn nộ(9).Cũng có khi đằng sau tiếng cười là nước mắt(10).
II. Tìm hiểu cách lập luận trong đoạn văn:
1-Khái niệm lập luận:
Lập luận là đưa ra những luận điểm, luận cứ, luận chứng nhằm dẫn dắt, thuyết phục người nghe, người đọc về một vấn đề nào đó mà văn bản hướng tới.
2-Các kiểu lập luận trong đoạn văn:
a-Quy nạp:
VD: Hiện nay trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiện giấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh giặc, người dân đi làm, không cho phép xem lâu. Vì vậy, nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy.(Hồ Chí Minh)
b-Diễn dịch:
VD: Tôi quyết trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng lúc một hồn thơ rộng như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu. (Hoài Thanh).
c-Song hành:
VD: Ca dao là bầu sữa nuôi dưỡng tuổi thơ. Ca dao là hình thức trò chuyện tâm tình của những chàng trai cô gái. Ca dao là tiếng nói biết ơn, tự hào về công đức của tổ tiên và anh linh của những người đã khuất. Ca dao là phương tiện bộc lộ nỗi tức giận hoặc lòng hân hoan của người sản xuất.
d-Móc xích:
VD: Đọc thơ Nguyễn Trãi, nhiều người đọc khó mà biết có đúng là thơ Nguyễn Trãi không. Đúng là thơ nguyễn Trãi rồi thì cũng không phải là dễ hiểu đúng. Lại có khi chữ hiểu đúng, câu hiểu đúng mà toàn bài không hiểu. Không hiểu vì không biết chắc bài thơ được viết ra lúc nào trong cuộc đời nhiều chìm nổi của Nguyễn Trãi”.
e-Kết cấu theo lối kết hợp :
- Diễn dịch - Quy nạp ( Tổng – Phân – Tổng):
Văn học dân gian đã đem lại những hiểu biết cực kỳ phong phú và đa dạng về cuộc sống nhân dân các thời đại. VHDG cho ta thấy rõ quan niềm về vũ trụ, về nhân sinh, những kinh nghiệm sản xuất, những tập quán lao động, những quan hệ họ hàng, làng nước, những tín ngưỡng, những phẩm chất đạo đức và tình cảm nhiều mặt trong đời sống con người. Điểm đáng quý là tính cổ xưa và tính nguyên sơ của nó. Người đời nay và mai sau có thể qua VHDG mà tái hiện đời sống tinh thần của nhân dân trong quá khứ.
- Diễn dịch – Song song:
Phong cảnh miền Tây Bắc thật là hùng vĩ. Núi rừng trùng điệp nhấp nhô một màu xanh thẳm. Có những ngọn núi cao chót vót, bốn mùa mây quẩn quanh sườn. Có những cao nguyên chạy dài mênh mông. Có những thung lũng hình lòng chảo lọt vào giữa những khoảng núi đồi.
- Song song – Quy nạp:
Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm đói rách. Làng xóm ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể. Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên. Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ. (Hồ Chí Minh)
g- Kết cấu tối giản: đoạn văn chỉ có một câu:

Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo quốc tế thứ ba. (Hồ Chí Minh)

3-Các phương thức liên kết câu trong đoạn văn:
a-Phương thức lặp:
+Lặp từ vựng:
Lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là rất to lớn. Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi.(Hồ Chí Minh)
+Lặp ngữ âm:
Tre giữ làng giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hy sinh bảo vệ con người. Tre anh hùng lao động. Tre anh hùng chiến đấu.(Thép Mới)
+Lặp cú pháp:
Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường.(Hồ Chí Minh)
b-Phương thức thế:
-Thế bằng đại từ: Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố.
-Thế bằng từ đồng nghĩa, gần nghĩa:
+Sài Gòn làm cho thế giới kinh ngạc. Sức sống của thành phố mãnh liệt không sao tưởng nổi.
+Một cái mũ len xanh nếu chị sinh con gái. Chiếc mũ sẽ đỏ tươi nếu chị đẻ con trai.(Anh Đức, Con chị Lộc)
c-Phương thức nối:
-Quan hệ từ: nhưng, vì, và hoặc… VD:
+Để giành thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiên tiến nhất, giác ngộ nhất.(Hồ Chí Minh)
+Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài.(Hồ Chí Minh)
-Các từ chuyển tiếp: một là, hai là, đầu tiên, trước hết, tóm lại, nhìn chung, nghĩa là…
d-Phương thức trật tự: sắp xếp các câu, ý theo một trật tự hợp lý khoa học.
e-Phương thức tĩnh lược:
Tinh thần yêu nước cũng như các thứ quý, của quý. Có khi được trình bày trong tủ kính, trong bình pha lê rõ ràng, dễ thấy, nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương trong hòm.( tĩnh lược chủ ngữ)
III. Phân tích bố cục và lập luận của văn bản khoa học:
1-Bố cục của một tài liệu khoa học:
a-Phần mở đầu:
b- Phần phát triển:
c-Phần kết thúc:
VD: Văn bản“Ôn dịch, thuốc lá” của giáo sư Nguyễn Khắc Viện (Sách Ngữ văn lớp 7) là một tài liệu khoa học. Văn bản gồm 3 phần:
+Phần mở đầu:Từ” Dịch hạch, thổ tả….. còn nặng hơn cả AIDS”: Thông báo về tệ nghiện thuốc lá là một vấn nạn trên hành tinh chúng ta.
+Phần phát triển: Từ”Ngày trước Trần Hưng Đạo … con đường phạm pháp.” Phần này triển khai thành nhiều luận điểm:
-Hút thuốc lá có nhiều chất độc ngấm vào cơ thể ảnh hưởng đến sức khoẻ bản thân.
-Hút thuốc ảnh hưởng đến môi trường chung quanh, ảnh hưởng đến sức khoẻ gia đình.
-Hút thuốc ảnh hưởng đến kinh tế, là nguyên nhân dẫn đến phạm pháp.
+Phần kết thúc: Từ ”Ngày nay….ngăn ngừa ôn dịch này”: Nêu lên quyết tâm cả thế giới phòng chống loại trừ thuốc lá khỏi đời sống.
2-Tái tạo lại đề cương văn bản khoa học:
---------------------------

Bài 3: THUẬT LẠI NỘI DUNG TÀI LIỆU KHOA HỌC

I. Tóm tắt một tài liệu khoa học:
1-Mục đích yêu cầu của việc tóm tắt tài liệu khoa học:
a-Mục đích:
b-Yêu cầu:
2-Một số cách tóm tắt thường sử dụng:
a-Tóm tắt dưới dạng đề cương:
b-Tóm tắt thành văn bản hoàn chỉnh:
3-Một số nguyên tắc khi tóm tắt :
II. Tổng thuật các tài liệu khoa học:
1-Mục đích yêu cầu:
2-Phương pháp tổng thuật:
III. Trình bày lịch sử vấn đề:
1-Mục đích yêu cầu:
a-Mục đích:
b-Yêu cầu:
2-Cách trình bày phần lịch sử vấn đề nghiên cứu:
-------------------------------

Bài 4: XÂY DỰNG MỘT TÀI LIỆU KHOA HỌC

I. Khái quát về xây dựng văn bản:
Để tạo lập văn bản, không thể đặt bút viết ngay mà phải tiến hành theo trình tự các bước sau:
+Định hướng cho văn bản
+Lập chương trình (Hay đề cương) văn bản
+Hiện thực hóa chương trình (Viết thành văn bản)
+Kiểm tra sửa chữa hoàn thiện văn bản.
Việc định hướng văn bản là khâu quan trọng đầu tiên trước khi tạo lập văn bản.
1-Định hướng mục đích giao tiếp:
2-Định hướng nội dung giao tiếp:
3-Định hướng đối tượng giao tiếp:
4-Định hướng phong cách giao tiếp:
II. Tạo lập văn bản khoa học:
1-Định hướng văn bản:
+Mục đích nghiên cứu: nghiên cứu một vấn đề khoa học nhằm phục vụ đời sống.
+Nội dung nghiên cứu: các vấn đề thuộc lãnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học giáo dục…
+Đối tượng giao tiếp: Chủ yếu là các nhà nghiên cứu, cán bộ khoa học, giáo viên học sinh…
+Phong cách giao tiếp: Phong cách khoa học, chú ý hệ thống lập luận (Các luận điểm, luận cứ, luận chứng).
2-Lập đề cương nghiên cứu:
a-Mục đích:
b-Yêu cầu :
c-Một số loại đề cương thường sử dụng:
d-Các thao tác lập đề cương một tài liệu khoa học:
e-Một số lỗi thường mắc khi lập đề cương:
+Xa đề hoặc lạc đề :
+Nội dung triển khai chưa đầy đủ so với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong phần mở đầu.
+Các nội dung trình bày có sự trùng lặp.
+Hệ thống các luận điểm thiếu tính nhất quán, mâu thuẫn, không lôgic.
+Trình bày các luận điểm không theo trình tự hợp lý.
f-Minh họa một đề cương tài liệu khoa học:
Tên đề tài: “Vai trò và tác dụng của sách trong đời sống tinh thần của con người”
1-Vai trò của sách:
a-Sách là kho tàng tri thức của con người:
+Tri thức về kinh nghiệm sản xuất
+ Tri thức về thế giới tự nhiên
+Tri thức về hiện thực con người
b-Sách là sản phẩm tinh thần của con người:
+Sách là kết quả của lao động trí tuệ
+Sách là hàng hoá có giá trị đặc biệt
c-Sách là người bạn tâm tình gần gũi với con người:
+Sách khuyên nhủ ta nhiều điều hay lẽ phải
+Sách là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày.
2-Tác dụng của sách:
a-Giúp con người hiểu biết khám phá nhiều hiên thực mới:
+Về khoa học tự nhiên
+Về khoa học xã hội
b-Sách giúp con người vượt qua giới hạn không gian thời gian:
+Hiểu biết quá khứ, hiện tại, tương lai
+Mở rộng tầm nhìn ra thế giới
3-Bàn về việc đọc sách:
a-Đọc sách tốt: Nâng cao hiểu biết về tự nhiên , xã hội. Giúp ta khám phá chính bản thân mình, chắp cánh ước mơ và sáng tạo khoa học
b-Đọc sách xấu: Hiểu sai sự thật, nhìn nhận cuộc đời lệch lạc, tự hạ thấp nhân cách, không có khát khao vươn đến cái đẹp.
4-Thái độ đọc sách:
a- Cần có thói quen đọc sách
b-Chọn sách tốt và có giá trị nhân văn cao
c-Phê phán lên án sách có tác dụng xấu
3-Viết thành văn bản:
a-Yêu cầu về đoạn văn:
b-Các thao tác viết đoạn văn:
c-Tách đoạn, chuyển đoạn và liên kết đoạn:
Một số cách tách đoạn:
+Tách đoạn theo sự thay đổi của đề tài, chủ đề
+Tách đoạn theo sự thay đổi của không gian, thời gian
+Tách đoạn theo mục đích tu từ nhằm nhấn mạnh nội dung thông tin được trình bày hoặc thể hiện phong cách riêng của tác giả(thường áp dụng cho văn bản nghệ thuật)
Một số cách liên kết đoạn và chuyển đoạn:
+Dùng từ ngữ chỉ trình tự, chỉ sự liệt kê: thứ nhất…, thứ hai…, một là…, hai là…
+Dùng từ ngữ chỉ sự tương phản, đối lập: trái với…, khác với...
+ Dùng từ ngữ chỉ ý nghĩa tổng kết, tóm tắt, khái quát: tóm lại, nhìn chung, bởi vậy…
+Sử dụng câu có chức năng liên kết. Câu này thường đứng đầu đoạn đi sau, gồm hai phần: phần đầu tổng kết nội dung đoạn đi trước, phần sau mở ra nội dung của đoạn đi sau. Hoặc mỗi phần tách thành một câu riêng. VD:
Ở trên, tôi đã nói Xuân Diệu là một nhà thơ dồi dào, dưới đây tôi xin bàn thêm: Xuân Diệu là một nhà thơ luôn luôn tìm tòi. (Tế Hanh)
+ Dùng sự song hành(lặp cú pháp), sự cân xứng cú pháp. VD:
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. (Hồ Chí Minh)
4-Sửa chữa hoàn thiện văn bản:
Một số lỗi thường gặp khi viết đoạn văn:
a-Lỗi về nội dung:
+Lạc ý,không bám sát chủ đề: Trong ca dao, những bài nói về tình yêu nam nữ là những bài nhiều hơn tất cả. Họ yêu làng, yêu nước, yêu từ cảnh ruộng đồng đến công việc trong xóm, ngoài làng.
+Mâu thuẫn về ý: Đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong cảnh màn đêm buông xuống. Những khuôn mặt rám nắng, những cánh tay gân guốc, bắp thịt nổi cuồn cuộn khẩn trương chuẩn bị nhổ neo lên đường.
+Lặp ý: Mùa thu câu cá là một bài thơ buồn. Mọi vật trong bài thơ Mùa thu câu cá của Nguyễn Khuyến đều buồn. Cảnh vật đều phảng phất nỗi buồn man mác. Nỗi buồn như thấm vào cảnh vật.
+Thiếu ý: Trong lịch sử chống ngoại xâm nước ta hào kiệt thời nào cũng có. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh tan quân Thái thú Tô Định. Đất nước sau hơn hai thế kỉ bị phong kiến nước ngoài đô hộ đã giành được thắng lợi hoàn toàn.
+Đứt mạch ý(giữa các ý có sự gián đoạn, nhảy cóc, rời rạc): Mùa xuân, cây gạo gọi đến bao nhiêu là chim. Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ. Hàng ngàn bơng hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng. Hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ánh nến xanh. Tất cả đều lĩng lánh, lung linh trong nắng (TV9).
b-Lỗi trong cấu tạo văn bản:
+Tách đoạn không thích hợp: Ca dao có nhiều câu ca ngợi cảnh đẹp đất nước. Ca dao đưa chúng ta vô xứ Nghệ quanh với “non xanh nước biếc”. Rồi đến xứ Huế đẹp và thơ, đắm mình trong đêm trên sông Hương với “giọng hò xa vọng thắm tình nước non”.
Rồi xa nữa là “Nhà Bè nước chảy chia hai, ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”.
+Dùng phương tiện liên kết không phù hợp: Nhắc đến Chí Phèo là người ta lại nhớ đến một tên say, một kẻ chuyên nghề đâm thuê, chém mướn và rạch mặt ăn vạ. Nhưng suốt cả cuộc đời, Chí không có ước mơ và thèm khát đến cuộc sống gia đình. Vậy mà tất cả điều đó của Chí đều không được xã hội thừa nhận.
III. Kỹ thuật trình bày một luận văn khoa học:
1-Khái quát về luận văn khoa học:
Luận văn khoa học là chuyên khảo về một vấn đề khoa học hoặc công nghệ do một người viết.
Luận văn khoa học bao gồm:
- Tiểu luận môn học, Thu hoạch (báo cáo) thực tập: là báo cáo về một vấn đề thuộc một môn học hay một vấn đề thực tiễn tại một đơn vị nào đó nhằm rút ra những kết luận hay đóng góp ý kiến, đề xuất giải pháp để thực hiện hay cải tiến vấn đề nêu ra, có độ dài không quá 30 trang;
- Khoá luận tốt nghiệp hay Đồ án tốt nghiệp: là chuyên khảo mang tính chất tổng hợp, thể nghiệm kết quả sau một khoá đào tạo đại học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hay khoa học kỹ thuật, được chấm hay bảo vệ để lấy bằng cử nhân hay kỹ sư, có độ dài khoảng 80 trang;
- Luận văn Thạc sỹ: là chuyên khảo sâu về một vấn đề khoa học, công nghệ, kỹ thuật hoặc quản lý cụ thể, chứng tỏ học viên đã nắm vững kiến thức đã học, nắm được phương pháp nghiên cứu và có kỹ năng năng thực hành về vấn đề nghiên cứu, có độ dài khoảng 100 trang và được bảo vệ trước Hội đồng để lấy học vị thạc sỹ.
2-Phương pháp tiến hành luận văn khoa học:
a- Lựa chọn và đặt tên đề tài luận văn:
+Chọn lựa đề tài nghiên cứu:
+Đặt tên đề tài:
b- Xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu:
+ Xây dựng đề cương: Đối với một luận văn khoa học, đề cương nghiên cứu, ngoài phần mở đầu và kết luận, thường gồm 3 (ba) chương.
Chương 1 thường đề cập đến những vấn đề lý luận chung, như: khái niệm, vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng, những vấn đề cơ bản của vấn đề nghiên cứu; Khái quát hoá các lý thuyết, học thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu (đối với khoá luận tốt nghiệp hay luận văn thạc sỹ) …
Chương 2 thường dành để phân tích tình hình, thực trạng của vấn đề nghiên cứu, nguyên nhân của những yếu kém, khuyết điểm …
Chương 3 nêu lên quan điểm, phương hướng, mục tiêu hay dự báo tình hình phát triển và đề xuất các giải pháp, phương pháp giải quyết vấn đề. Trong mỗi chương không nên có quá nhiều mục lớn mà nên bố cục khoảng 3 mục.
Đối với Thu hoạnh thực tập tốt nghiệp hay Khoá luận tốt nghiệp … có thể dùng chữ số Lamã I, II, III để thay cho 1.1., 1.2., 1.3. …
+ Xây dựng kế hoạch nghiên cứu: Cùng với đề cương, sinh viên phải xây dựng kế hoạch nghiên cứu , chỉ rõ nội dung công việc và thời gian hoàn thành.
c- Trình đề cương cho người hướng dẫn để xin ý kiến:
d- Sưu tầm, lưu trữ tài liệu, lập danh mục tư liệu, làm thí nghiệm …
e - Viết luận văn khoa học:
+ Nội dung của luận văn:
Luận văn, dù sắp xếp chương mục như thế nào, cũng phải có những bộ phận và nội dung cơ bản theo thứ tự : bìa chính, bìa phụ, mục lục, lời nói đầu, các chương, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nếu có.
Tài liệu tham khảo: Tài liệu tham khảo bao gồm tất cả các tác phẩm kinh điển, giáo trình, sách tham khảo, luật lệ, nghị quyết, thông tư, báo cáo, các bài báo…bằng các thứ tiếng khác nhau mà tác giả đã tham khảo khi nghiên cứu và có dẫn trong luận văn.
Danh mục tài liệu tham khảo phải được ghi theo đúng quy định sau đây:
- Tài liệu tham khảo phải xếp riêng theo từng ngôn ngữ, theo thứ tự Việt, Anh, Pháp, Nga (đánh số liên tục)…Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải giữ nguyên văn.
- Tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt phải xếp theo thứ tự ABC của tên tác giả, bằng tiếng nước ngoài xếp theo ABC của họ tác giả. Nếu tài liệu không có tên tác giả thì xếp theo chữ cái đầu tiên của cơ quan ban hành hay phát hành ấn phẩm đó.
- Nguồn tài liệu phải có các thông tin: tên tác giả hoặc cơ quan phát hành; năm xuất bản (để trong ngoặc đơn); tên sách (in nghiêng) hoặc tên bài báo (đặt trong ngoặc kép, không in nghiêng); nhà xuất bản, nơi xuất bản (đối với sách); tên tạp chí (in nghiêng), số (trong ngoặc), trang … (nếu là bài báo).
Ví dụ cách ghi như sau:
1. Hoàng Văn Châu (2003), Vận tải-Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, TP HCM.
Phụ lục: Phụ lục là những bảng , biểu, số liệu, sơ đồ, hình vẽ, kết quả điều tra, khảo sát … có tác dụng chứng minh, minh họa cho các nội dung của luận văn mà nếu đưa vào luận văn thì không đẹp và chiếm nhiều trang nên được đưa vào phần cuối cùng của luận văn và không tính số trang. Phụ lục này cũng có thể được đánh số thứ tự và phải đánh số trang.
+ Văn phong của luận văn khoa học:
Luận văn khoa học phải được viết bằng một thứ tiếng Việt chuẩn xác, rõ ràng, mạch lạc. Văn phong của luận văn phải thể hiện sự nghiêm túc, giản dị, khoa học, tránh dùng đại từ nhân xưng, như tôi, chúng tôi, em … mà thay vào đó có thể dùng tác giả, người viêt luận văn này …
+ Hình thức và cách đánh máy:
Luận văn khoa học, từ bìa cho đến các trang nội dung, phải được đánh máy và trình bày một cách chân phương, nghiêm túc, trên giấy trắng khổ A4, không mùi bằng mực đen. Tuyệt đối không được thêm các hình vẽ ở các trang bìa, cũng như không được kẻ thêm vạch hay viết thêm tên người hướng dẫn, tên tác giả ở phía trên và phía dưới ở các trang bên trong. Các kiểu chữ sử dụng cũng phải chân phương, không rườm ra, màu mè, cầu kỳ, bay bướm. Luận văn chỉ được đánh máy trên một mặt của trang giấy, dùng kiểu chữ Vn-Times (TCVN3) hoặc Times New Roman (Unicode), cỡ 13 hoặc 14, dãn dòng 1,5 line, lề trên 3 cm, lề dưới 3,5 cm (nếu đánh số trang ở dưới), lề trái 3,5 cm, lề phải 2 cm. Một trang như vậy chỉ khoảng 27 dòng.
+ Mẫu cấu trúc một luận văn:
1. Tên đề tài
2. Lĩnh vực nghiên cứu
3. Thời gian thực hiện
4. Cơ quan quản lí
5. Chủ nhiệm đề tài
6. Tính cấp thiết của đề tài
7. Mục tiêu của đề tài
8. Phương pháp nghiên cứu
9. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
10. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (lịch sử vấn đề):
- Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
- Danh mục các công trình có liên quan
11. Nội dung nghiên cứu (đề cương chi tiết)


CHƯƠNG II: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐẶT CÂU- DÙNG TỪ- CHÍNH TẢ

Bài 1: CHỮA CÁC LỖI THÔNG THƯỜNG VỀ CÂU

I. Những yêu cầu về câu trong văn bản:
1-Câu cần cấu tạo đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt:
a-Quy tắc cấu tạo các cụm từ :
+Cụm danh từ :có danh từ làm thành tố chính. VD: quyền mưu cầu hạnh phúc
+Cụm tính từ : có tính từ làm thành tố chính. VD: rộng thênh thang tám thước
+Cụm động từ : có động từ làm thành tố chính. VD: học ngoại ngữ
+Cụm chủ -vị: Có cấu tạo hình thức giống câu đơn nhưng chỉ là một bộ phận của câu
VD: Ngôi trường tôi học núp dưới rừng cọ
cv
Định ngữ
C V
b-Quy tắc cấu tạo đúng các thành phần trong kiểu câu đơn:
- Câu đơn có hai thành phần chính: VD: Mây bay.
- Câu đơn thêm thành phần liên kết:
VD: Sáng hôm nay, gió mùa Đông Bắc đã thổi vào miền bắc nước ta.
Trạng ngữ C Định ngữ V Bổ ngữ
- Câu đơn có thêm thành phần tình thái:
VD: Chao ôi, gió mùa đông bắc đã thổi vào nước ta.
-Câu có thêm thành phần phụ chú:
VD: Gió mùa đông bắc – cái thứ gió mang đến giá rét - đã thổi vào nước ta.
c-Quy tắc cấu tạo đúng theo kiểu câu ghép:
+ Câu ghép đẳng lập biểu hiện quan hệ liệt kê:
VD: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
+ Câu ghép đẳng lập có quan hệ đối lập:
VD: Tôi đến chơi nhưng nó đi vắng.
+ Câu ghép đẳng lập có quan hệ lựa chọn:
VD : Tôi đi hay anh đi?
+ Câu ghép chính phụ có quan hệ nhân – quả:
VD: Vì thời tiết xấu nên chuyến bay bị huỷ bỏ.
+ Câu ghép chính phụ có quan hệ giả thiết –hệ quả:
VD : Nếu tài liệu này hoàn thành thì anh sẽ có cơ hội tham dự hội thảo.
+ Câu ghép chính phụ có quan hệ mục đích – sự kiện:
VD: Để mọi người hiểu rõ hơn, anh ta giải thích rất cặn kẽ.
+ Câu ghép chính phụ có quan hệ nhượng bộ – tăng tiến:
VD: Mặc dù thời tiết xấu nhưng anh ấy vẫn lên đường.
2-Câu cần đúng về nội dung ý nghĩa:
a-Nội dung mà câu biểu hiện cần phản ánh đúng hiện thực, những câu biểu hiện sai hiện thực là câu sai.
VD: Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên –Mông. (Sai)
b-Quan hệ ý nghĩa trong câu phải bảo đảm tính lôgic phù hợp với thực tế , quy luật thức, tư duy của con người.
VD: Người chiến sĩ bị hai vết thương: một vết thương ở đùi bên trái và một vết thương ở Quảng Trị. (sai)
c-Quan hệ giữa nghĩa các bộ phận trong câu phải phù hợp với các phương tiện hình thức thể hiện quan hệ.
VD: Tác giả tố cáo bọn thống trị bóc lột nhân dân ta tàn nhẫn về thuế má nhưng ông đã vạch mặt bọn thực dân đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa.(sai)
d-Nội dung các thành phần câu, các bộ phận câu phải có sự tương hợp về nghĩa(Trừ trường hợp chuyển nghĩa mang sắc thái tu từ):
VD: Những tư tưởng xanh lục không màu ngủ một cách giận dữ.( câu vô nghĩa)
e-Về mặt ý nghĩa câu trong văn bản phải có thông tin mới, tránh những thông tin vô bổ.
VD: Nó nhìn tôi bằng mắt(Vô bổ) nhưng nếu thêm: Nó nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ thì hoàn toàn hợp lý.
3-Sử dụng dấu câu hợp lý:
+Dấu chấm: sử dụng kết thúc câu trần thuật.
+Dấu hỏi: đánh dấu kết thúc câu hỏi, có khi dùng ở giữa câu biểu thị sự nghi ngờ.
+Dấu than: đánh dấu kết thúc câu cầu khiến, cảm thán, đôi khi dùng để biểu thị thái độ mỉa mai.
+Dấu hai chấm: Báo hiệu phần đi sau mang tính chất giải thích, hoặc lời trích dẫn.
+Dấu ba chấm(chấm lửng): Biểu thị sự liệt kê chưa hết, lời nói ngắt quãng, phần câu bị tĩnh lược.
+Dấu chấm phẩy: phân cách các phần, các ý tương đối độc lập, ngang cấp nhau trong một câu dài có kết cấu phức tạp. VD: …Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở. (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
+Dấu phẩy: Ngăn cách các thành phần cùng loại, các vế của câu ghép, thành phần thứ yếu, biệt lập với ý chính của câu.
+Dấu gạch ngang: Phân tách thành phần chú thích, đặt trược lời đối thoại, các ý liệt kê (ở đầu dòng).
+ Dấu ngoặc đơn: đóng khung phần chú thích hay bổ sung hoặc phần chỉ nguồn gốc, xuất xứ.
+Dấu ngoặc kép: đánh dấu lời trích trực tiếp, các từ ngữ được hiểu theo nghĩa khác.
4-Câu cần có liên kết chặt chẽ với các câu khác trong văn bản:
a-Liên kết nội dung:(còn quan niệm là mạch lạc)
Cuộc sống của quê tôi gắn bó với cây cọ (1). Cha làm cho tôi chiếc chổi cọ để quét nhà, quét sân (2). Mẹ đựng hạt giống đầy các móm lá cọ, treo trên gác bếp để gieo cấy mùa sau (3). Chị tôi đan nón lá cọ xuất khẩu (4). Chiều chiều chăn trâu, chúng tôi nhặt những trái cọ rơi đầy quanh gốc, đem về om, ăn vừa béo vừa bùi (5).
b-Liên kết hình thức:
Các câu dùng các yếu tố ngôn ngữ nằm trong một số phép liên kết (Phép lặp, liên tưởng, thế, nối, tĩnh lược…)
II. Một số lỗi câu sai thường gặp:
1-Câu sai về cấu tạo ngữ pháp:
a-Câu thiếu thành phân nòng cốt:
+Câu thiếu vị ngữ:
Hình ảnh người dũng sĩ mặc áo giáp sắt, đội mũ sắt, cưỡi ngựa sắt, vung gậy sắt, xông thẳng vào quân thù.
+Câu thiếu chủ ngữ:
Qua tác phẩm Tắt đèn cho ta thấy hình ảnh người phụ nữ nông dân trong chế độ cũ.
+Câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ:
Từ những chị dân quân ngày đêm canh giữ đồng quê và bầu trời tổ quốc, đến những bà mẹ chèo đò anh dũng trên các dòng sông đầy bom đạn.
+Câu ghép thiếu vế câu:
Mặc dù trong công cuộc xây dựng CNXH, họ gặp bao nhiêu khó khăn gian khổ về vật chất, gặp bao nhiêu luận điệu xảo trá nham hiểm của kẻ thù nhằm phá hoại công cuộc xây dựng CNXH.
b-Câu không phân định mạch lạc các thành phần câu(chập cấu trúc câu):
Qua bản báo cáo của ông cho chúng ta thấy tình hình sản xuất trong xí nghiệp còn nhiều khó khăn.
c-Câu sai về trật tự sắp xếp các thành phần:
-Nhằm tăng cường các hoạt động giáo dục về bảo vệ thiên nhiên trong nhà trường, chi hội bảo vệ thiên nhiên được thành lập.
- Nếu không bị trừng trị kịp thời, sẽ gia tăng tội ác
2-Câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận:
a-Câu phản ánh sai hiện thực khách quan do không nắm vững kiến thức:
VD: Trần Hưng Đạo đã lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi quân Minh giành nền độc lập cho tổ quốc.
b- Quan hệ nghĩa giữa các thành phần câu, các vế câu không phù hợp(với thực tế), không lôgíc:
Qua những tác phẩm văn học văn học ở thế kỷ XVIII, bọn quan lại phong kiến ra sức hoành hành, không bảo đảm nổi đời sống cho người dân lương thiện.
c-Quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận của câu không phù hợp với các phương tiện hình thức thể hiện quan hệ: thường xảy ra ở các câu ghép có dùng quan hệ từ nhưng không thích ứng với quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu, bộ phận câu.
Phan Bội Châu đã tố cáo bọn thực dân Pháp bóc lột nhân dân ta về thuế má nhưng ông không ngần ngại mà không vạch mặt bọn thực dân Pháp cướp bóc nhân dân ta.
3-Câu sai về dấu câu:
+Dùng dấu chấm ngắt câu khi câu chưa hoàn chỉnh trọn vẹn:
Chế độ kẻ giàu sang áp bức người nghèo khó, người là lang sói đối với người. Chế độ đó thật bất công, đáng lên án và tiêu diệt.
+Không đánh dấu phẩy ngắt câu khi đã trọn ý và chuyển sang ý khác:
Với mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp trong những năm chống Mỹ cứu nước y tế xã phường, thị trấn đã đóng góp công sức to lớn vào cấp cứu thương tại chỗ gương tiêu biểu cho lớp cán bộ cơ sở y tế đó là anh hùng lao động Trần Chữ.
+Dùng lẫn lộn các dấu câu:
Họ chưa hiểu rõ cái gì là ưu điểm, cái gì là hạn chế trong nền kinh tế thị trường?
4-Câu sai về mạch lạc và liên kết câu trong văn bản:
-Không thống nhất về chủ đề giữa các câu: Trong ca dao, những bài nói về tình yêu nam nữ là những bài nhiều hơn tất cả. Họ yêu làng, yêu nước, yêu từ cảnh ruộng đồng đến công việc trong xóm, ngoài làng.
-Quan hệ giữa các ý mâu thuẫn: Đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong cảnh màn đêm buông xuống. Những khuôn mặt rám nắng, những cánh tay gân guốc, bắp thịt nổi cuồn cuộn khẩn trương chuẩn bị nhổ neo lên đường.
-Dùng từ không đúng các phương tiện liên kết hình thức: Nhắc đến Chí Phèo là người ta lại nhớ đến một tên say, một kẻ chuyên nghề đâm thuê, chém mướn và rạch mặt ăn vạ. Nhưng suốt cả cuộc đời, Chí không có ước mơ và thèm khát đến cuộc sống gia đình. Vậy mà tất cả điều đó của Chí đều không được xã hội thừa nhận.
III. Một số thao tác rèn luyện về câu:
1-Mở rộng và rút gọn câu:
a-Mở rộng câu:
+Thêm các thành phần phụ cho từ (Định ngữ cho danh từ, bổ ngữ cho tính từ, động từ)
VD: “Giá hàng tăng” mở rộng thêm thành” Giá các mặt hàng tiêu dùng tăng 1,3% trong 7 tháng đầu năm qua”.
+Thêm các thành phần phụ cho câu (Trạng ngữ, đề ngữ…) để cụ thể hoá ý nghĩa trong câu.
VD: ”Chúng ta nghiên cứu hành vi của từng cá nhân riêng lẻ” có thể mở rộng thành ”Chúng ta nghiên cứu hành vi của từng cá nhân riêng lẻ, để hiểu rõ hoạt động của thị trường.”
b-Rút gọn câu:
VD: “Khi một ngày mới bắt đầu, trẻ em lại nô nức đến trường” tĩnh lược lại là”Trẻ em đến trường”.
2-Thay đổi trật tự và lựa chọn trật tự các từ, các thành phần câu:
Trong điều kiện ngữ cảnh nhất định phục vụ cho mục đích giao tiếp nhất định vẫn có thể thay đổi trật tự từ làm tăng thêm sắc thái biểu cảm, tạo nên sự liên kết với các câu khác trong văn bản.
VD: + Chúng ta hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em.
+ Chúng ta hãy dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất.
+ Những gì tốt đẹp nhất, chúng ta hãy dành cho trẻ em.
+ Cho trẻ em, chúng ta hãy dành những gì tốt đẹp nhất.
Khi chọn lựa sắp xếp, thay đổi trật tự từ cần chú ý:
a-Nghĩa biểu hiện sự việc, nội dung thông báo của câu không thay đổi.
VD: “Tôi thích đá bóng” khác với ‘Tôi thích bóng đá”.
b-Trật tự được thay thể phải phù hợp với mạch ý của cả đoạn văn hay văn bản
c-Có thể dùng thêm hư từ
d-Trật tự được thay thế có tác dụng về liên kết văn bản, sắc thái biểu cảm, tu từ.
3-Chuyển đổi các kiểu câu và cách diễn đạt:
a-Chuyển đổi câu chủ động và câu bị động:
Câu chủ động có kết cấu: chủ thể+hành động+đối tượng. Ví dụ: Lớp tổ chức câu lạc bộ văn nghệ. Câu bị động có kết cấu: đối tượng+bị(được)+chủ thể+hành động. Ví dụ: Câu lạc bộ văn nghệ+được+lớp+tổ chức. Trong câu bị động, từ ngữ chỉ chủ thể và từ bị(được) có thể khuyết. VD: Ngôi nhà đã xây xong.
-Thằng này rất ngạc nhiên (1). Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình như ươn ướt(2). Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho(3). Xưa nay nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì(4).( Chí Phèo)
b-Chuyển đổi câu khẳng định thành phủ định:
VD: Anh ta không phải là không tốt.
c-Chuyển đổi các kiểu câu khác nhau về mục đích giao tiếp:
VD:”Giả sử các bậc đó khư khư theo thói nữ nhi thường tình thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được?”.
d-Chuyển lời dẫn trực tiếp thành lời dẫn gián tiếp:
VD1: Sau nhiều lần tra tấn bằng các thứ thuốc, bác sĩ kết luận:”Tên tù này câm thật.”
Có thể chuyển thành: Sau nhiều lần tra tấn bằng các thứ thuốc, bác sĩ kết luận rằng hắn câm thật.(gián tiếp)
VD2: Tối hôm qua, anh ấy còn bảo rằng:”Ngày mai tôi sẽ đến kiểm tra” có thể chuyển thành: Tối hôm qua anh ấy còn bảo rằng ngày mai anh ấy sẽ đến kiểm tra.
--------------------------

Bài 2: LUYỆN KĨ NĂNG DÙNG TỪ TRONG VĂN BẢN

I. Hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về từ :
1. Khái niệm về từ:
Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có thể dùng độc lập để cấu tạo câu.
2. Các bình diện chủ yếu của từ:
a- Bình diện hình thức ngữ âm và cấu tạo:
b- Bình diện nghĩa:
- Nghĩa biểu vật là nghĩa ứng với các sự vật, hiện tượng, trạng thái, hoạt động, tính chất ... được từ gọi tên. Đó là nghĩa mà khi nhắc đến từ nó gợi cho ta hình ảnh sự vật mà từ gọi tên.
- Nghĩa biểu niệm là những khái niệm, những thuộc tính về sự vật, hoạt động, tính chất... được phản ánh trong từ. Mỗi thuộc tính là một nét nghĩa. Tập hợp các nét nghĩa lại thành cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ.
- Nghĩa biểu thái là nghĩa phản ánh quan hệ của người sử dụng đối với từ tức là thể hiện sắc thái biểu cảm của người sử dụng ngôn ngữ.
- Nghĩa của từ còn bao gồm loại nghĩa ngữ pháp, là nghĩa khái quát cho cả một lớp từ hoặc thể hiện quan hệ của các từ trong cụm từ, trong câu.
c- Bình diện ngữ pháp:
Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt chỉ biểu lộ trong cụm từ và câu, khi từ kết hợp với từ đi trước và sau nó.
- Bác đã đi rồi sao Bác ơi! Từ “đi” kết hợp với phụ từ đã ở trước và từ rồi ở sau mang đặc điểm ngữ pháp của động từ.
- Chị Dậu là người phụ nữ nông dân điển hình đã bị nghiệt ngã trong cuộc đời đen tối. Ở đây, người dùng đã kết hợp sai từ. Từ “nghiệt ngã”(tính từ) không thể kết hợp với từ “bị”.
d- Bình diện phong cách:
3- Từ trong mối quan hệ với giao tiếp và văn bản:
a- Từ trong quá trình tạo lập văn bản:
b- Từ trong quá trình lĩnh hội văn bản:
BÀI TẬP: 1. Thay thế từ khô bằng từ tuôn trong câu thơ sau đây của Tản Đà:
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ, chờ mong tháng ngày. (Thề Non Nước)
Hãy phân tích hiệu quả về ngữ nghĩa của sự thay thế đó.
2. Phân tích các bình diện của từ mĩ lệ trong sự so sánh với từ đẹp.
II. Những yêu cầu chung khi sử dụng từ trong văn bản:
1- Đúng âm thanh và hình thức cấu tạo:
Một số trường hợp dễ xảy ra lỗi:
+ Không phân biệt được từ gần âm nhưng khác nghĩa:
- Lớp em đã khuyên góp được nhiều sách vở.
- Cậu ấy sốt miên man mấy ngày nay rồi.
+ Các từ viết sai chính tả do phát âm lệch chuẩn hoặc phát âm địa phương:
- Ông linh cảm có điều gì bất chắc xảy ra.
- Năng xuất làm việc ở công ty rất cao.
2- Đúng về nghĩa:
a- Đúng về nghĩa biểu vật, biểu niệm:
VD(dùng sai nghĩa): - Hoạt động y tế cơ sở là hoạt động thầm kín.
- Những điều mẹ dạy con xin ghi nhớ trong suốt hành trang của mình.
b- Đúng về nghĩa biểu thái:
c- Chuyển nghĩa của từ phải đúng qui luật
VD: Học sinh được thực hành trên máy sống. Từ sống trong ngữ cảnh này không dùng theo nghĩa gốc chỉ “sinh vật ở trạng thái trao đổi chất với môi trường bên ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết” mà với nghĩa chuyển đổi chỉ “trạng thái vận động, làm việc được.”
3- Đúng về đặc điểm ngữ pháp:
Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt thể hiện ở quan hệ kết hợp.
a- Quan hệ kết hợp của từ trong cụm từ:
VD: Các bông cúc trở nên tưng bừng nhảy múa dưới ánh nắng chói chang của ánh mặt trời. Dùng từ sai vì sau động từ “trở nên” chỉ có thể là danh từ hoặc tính từ chỉ kết quả biến hóa. Sửa lại là: “Các bông cúc trở nên tươi đẹp hơn dưới ánh nắng chói chang của ánh mặt trời”.
b- Quan hệ kết hợp của từ trong câu:
VD: Do lượng mưa năm nay kéo dài nên đã gây nhiều thiệt hại cho mùa màng.
Trong câu này quan hệ kết hợp giữa từ ‘lượng mưa”(cụm CN) và “kéo dài”(cụm VN) không phù hợp. “Lượng mưa” có thể lớn hay nhỏ, nhiều hay ít chứ không thể “kéo dài”(cần thay thế bằng từ”mùa mưa”)
c- Các lỗi dùng từ thường gặp về mặt ngữ pháp:
+ Lỗi dùng sai đặc điểm ngữ pháp có thể do người viết dùng thừa hoặc thiếu quan hệ từ.
VD: Số người mắc và chết các bệnh truyền nhiễm đã giảm.
+ Lỗi dùng từ sai đặc điểm ngữ pháp còn do người viết không nắm chắc đặc điểm từ loại của từ, dùng từ không đúng với đặc điểm từ loại của nó.
Vd: Ở cơ quan tôi, anh ấy là người làm việc rất là năng lực.
4- Thích hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản:
Vd: Từ địa phương dùng trong sinh hoạt hàng ngày và trong sáng tác văn học (Rứa là hết! Chiều ni em đi mãi) nhưng trong văn bản chính luận, khoa học thì không được dùng.
VD: Qua sách vở và cái lôgic thông thường của lịch sử thì ta biết rằng dân tộc nào, đất nước nào chẳng phải vượt qua một chặng đường nghèo rớt mồng tơi như thế.
5- Đảm bảo tính hệ thống của văn bản:
6- Tránh lặp từ, thừa từ không cần thiết và bệnh sáo rỗng công thức:
a-Tránh hiện tượng dùng từ thừa hoặc lặp từ:
Vd: Nghiên cứu mạng lưới y tế cơ sở nhằm góp phần cải thiện và nâng cao năng lực hoạt đôïng để không ngừng ngày một đáp ứng tốt hơn yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
b-Tránh hiện tượng sáo rỗng hoặc cách nói “đao to búa lớn”:
Vd: - Anh là nhà thơ vĩ đại đã viết nên những tác phẩm tuyệt diệu với một nội dung trữ tình sâu sắc, một hình thức nghệ thuật điêu luyện, xứng đáng ở đỉnh cao chói lọi trên văn đàn thơ ca rực rỡ của dân tộc.
- Nếu đời sống là nguồn cảm hứng dồi dào, mang đậm hương vị mặn mà của tiếng lòng nhân ái, thì thời đại là ánh hào quang trong băng giá, xua tan mây mù cho ánh sáng tràn theo với rực rỡ nắng và hoa lung linh màu sắc.
BÀI TẬP:
Bài tập 1: Phân tích sắc thái nghĩa của các từ gần nghĩa sau: Chết, hy sinh, qua đời, tạ thế, quy tiên, toi mạng, nghẻo.
Bài tập 2: Phân tích hiện tượng chuyển nghĩa của từ “xuân” trong các ngữ cảnh sau:
+ Xuân ơi xuân em mới đến dăm năm
Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội. (Bài ca xuân 61-Tố Hữu)
+ Ôi những nàng xuân rất dịu dàng
Hát câu quan họ chuyến đò ngang. (Xuân sớm-Tố Hữu)
+ Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào người.(Vội vàng-Xuân Diệu)
Bài tập 3: Phân tích lỗi dùng từ trong các câu sau và chữa lại cho đúng:
+ Thực tế đã bãi bỏ những luận điểm sai trái đó.
+ Nhà văn phải thường xuyên xâm nhập đời sống thực tế của xã hội.
+ Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị lãnh đạo đã sang xâm lược nước ta.
+ Chồng nàng là một chàng trai cao to vạm vỡ, đẹp trai nức nở và kiếm tiền như rác.
III. Một số thao tác dùng từ và trau giồi vốn từ:
1- Lựa chọn từ ngữ:
-Vd: Bác vẫn đi kia giữa cánh đồng
Thăm từng ruộng lúa, hỏi từng bông
Ghé từng hợp tác, qua thôn xóm
Xem mấy trường tươi, mấy giếng trong.(Tố Hữu)
-Vd: Từ”Nắm”(động từ) + bài ,tay, tình hình, kiến thức, vững chắc
Từ”Bàn”(danh từ)+ gỗ, đá, nhựa, ăn, học
Từ “Ngoan”(tính từ)+ Học sinh, cháu bé, con
2- Thay thế từ ngữ:
3-Sáng tạo trong việc sử dụng từ ngữ:
a-Tạo cho từ ngữ nhiều nghĩa mới theo phương thức chuyển nghĩa.
-Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người.
-Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
b-Sáng tạo ra nét nghĩa mới ở bình diện ngữ pháp:
-Ông ấy đã sống một cuộc sống oanh liệt đầy ý nghĩa.
-Theo công an quận, bọn xấu đã kết cấu với nhau để hại bà con.
c-Sáng tạo nét nghĩa mới ở bình diện ngữ âm, hình thức cấu tạo từ:
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.(Nguyễn Du – Truyện Kiều)

Bài 3: CHÍNH TẢ VÀ PHIÊN ÂM TIẾNG NƯỚC NGOÀI

I. Nguyên tắc chính tả tiếng Việt
1. Khái niệm chính tả:
Chính tả là việc viết đúng chữ viết theo chuẩn mực (đúng âm, thanh, đúng chữ(chữ cái, chữ số, từ ngữ mượn tiếng nước ngoài).
2. Nguyên tắc chính tả tiếng Việt:
a. Nguyên tắc ngữ âm:
- Chữ viết phải đúng chuẩn ngữ âm.
- Chữ viết phải đúng theo các qui tắc chung của chữ Việt hiện nay(như qui tắc kết hợp các âm, các thanh hoặc chữ cái). Ví dụ: sau âm /a/(a dài) thì viết i, còn sau âm /ă/ (a ngắn) thì viết y.
b. Nguyên tắc ngữ nghĩa:
Khi gặp những trường hợp khó xác định hoặc có nhiều khả năng xảy ra thì cần căn cứ vào ý nghĩa của từ hay tiếng đang viết mà xác định cách viết đúng. Ví dụ: (con) hươu, (nghỉ) hưu, gia (đình), da (thịt)…
II. Các cách rèn luyện và sửa chữa lỗi chính tả
1. Ghi nhớ mặt chữ của từng từ
2. Luyện phát âm đúng chuẩn
3. Tìm hiểu và vận dụng các mẹo luật chính tả
4. Sử dụng từ điển chính tả
III. Luyện chữa các lỗi chính tả thường gặp
1. Các lỗi vi phạm các qui định trong hệ thống chữ Quốc ngữ
a. Các qui định về viết phụ âm, nguyên âm:
b. Qui định về viết dấu thanh:
2. Các lỗi do ảnh hưởng của phát âm địa phương
a. Viết sai âm đầu như không phân biệt: n/l, ch/tr, s/x, r/d…
b. Viết sai vần:
c. Viết sai dấu thanh:
3. Các lỗi vi phạm về qui tắc viết hoa: viết hoa không đúng hoặc tuỳ tiện.
IV. Qui định về viết hoa:
1-Mục đích viết hoa:
2-Quy tắc viết hoa tên riêng:
a-Tên riêng Việt Nam:
+Tên người:
+Tên địa lý:
+Tên cơ quan đoàn thể, tổ chức việt Nam:
+Tên các nhân vật trong truyện:
b-Tên riêng nước ngoài:
+Tên người, tên địa lý:
+Tên cơ quan đoàn thể tổ chức nước ngoài:
V. Viết các từ ngữ, thuật ngữ tiếng nước ngoài:
1-Giữ nguyên dạng chữ viết ở ngôn ngữ gốc:
2-Dịch nghĩa các thuật ngữ:
3-Chuyển tự:
4-Phiên âm:
-----------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Tiếng Việt thực hành, Bùi Minh Toán, Nguyễn Quang Ninh, NXBGD 2003
- Tiếng Việt, tập 1,2,3, NXBGD - 1998
- Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm, NXBGD – 2000
- Tiếng Việt thực hành, Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, NXBGD – 1998
- Rèn luyện ngôn ngữ, tập 1,2, Phan Thiều, NXBGD - 1998

Nguyễn Duy Xuân

Tác giả bài viết: Nguyễn Duy Xuân

Tải thêm tài liệu liên quan đến bài viết Tiếng Việt thực hành Đại học là gì