Đánh nhanh, thắng nhanh là của ai

Trách nhiệm nặng nề của “tướng quân tại ngoại”

Trong kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy báo cáo Bộ Chính trị, thời gian chiến dịch dự kiến diễn ra trong 45 ngày, đã được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh chiến dịch kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ. Do còn giải quyết một số công việc, ông ra mặt trận sau. Đoàn cán bộ đi trước có thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng chiến dịch. Phía đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc có ông Mai Gia Sinh, Tham mưu trưởng.

Vào giữa tháng 12.1953, tham mưu chiến dịch của ta đã cơ bản xây dựng xong kế hoạch tác chiến chiến dịch cụ thể, với sự giúp đỡ của cố vấn Trung Quốc. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong hồi ký: “Anh Thái báo cáo phương án đánh Điện Biên Phủ đã được chuẩn bị, chờ tôi lên để thông qua. Đây sẽ là lần đầu bộ đội ta mở một cuộc tiến công quy mô lớn vào một tập đoàn cứ điểm với một vạn quân. Cán bộ, chiến sĩ ta đã được chuẩn bị đánh tập đoàn cứ điểm... Trận đánh sắp tới sẽ là một thử thách lớn chưa từng có đối với ta trong chiến tranh. Ta đã chọn chiến trường rừng núi là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để tiêu diệt địch. Nhưng Điện Biên Phủ không hoàn toàn là rừng núi. Ở đây có cánh đồng lớn nhất Tây Bắc. Rất nhiều cứ điểm nằm trên cánh đồng. Bộ đội ta sẽ phải tiến hành nhiều trận đánh với quân cơ động có máy bay, xe tăng, đại bác yểm trợ trên địa hình bằng phẳng giống như ở đồng bằng. Nếu kẻ địch chấp nhận trận đánh ở Điện Biên Phủ, thì đây cũng là chiến trường do chúng lựa chọn... Trận đánh này ta không được phép thua. Phần lớn tinh hoa của bộ đội chủ lực trong tám năm kháng chiến đều tập trung ở đây. Những vốn liếng vô cùng quý giá, nhưng cũng thực ít ỏi. Từ năm 1950 bắt đầu mở chiến dịch lớn tới mùa xuân này, vẫn là những đơn vị ấy, những con người ấy. Tôi đã thuộc từng trung đoàn, từng tiểu đoàn, từng đại đội chủ công, biết những cán bộ đại đội, trung đội, chiến sĩ đã lập công xuất sắc. Đã thấy rõ mọi người lên đường lần này đều sẵn sàng hy sinh để giành chiến thắng. Nhưng nhiệm vụ của chiến dịch không chỉ là giành chiến thắng, mà còn phải giữ được những vốn quý cho cuộc chiến lâu dài...”. (Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, NXB QĐND, H, 2006, tr.913, 914).

Ngày 5.1.1954, trước khi lên đường ra trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến chào Bác Hồ ở Khuổi Tát. Bác hỏi: “Chú đi xa như vậy, chỉ đạo các chiến trường có gì trở ngại không?” Đại tướng trả lời: Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng và cấp thiết, khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị. Bác động viên: “Tổng tư lệnh mặt trận, “tướng quân tại ngoại”! Trao cho chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định, rồi báo cáo sau”.

Khi chia tay, Người dặn dò Đại tướng: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Vị tư lệnh chiến dịch “cảm thấy trách nhiệm lần này rất nặng”.

Tại sao chọn “đánh nhanh”?

Ngày 12.1.1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc Vi Quốc Thanh và một số cán bộ cùng đến sở chỉ huy thì được biết phía ta và cố vấn đã thống nhất sẽ nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 20.1, với phương châm là “đánh nhanh giải quyết nhanh” trong vòng 3 đêm 2 ngày. Đây là điều Đại tướng chưa nghĩ tới, như ông viết trong hồi ký: “...Tôi vẫn cho rằng đánh nhanh không thể giành thắng lợi, nhưng chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án các đồng chí đi trước đã lựa chọn. Cũng không còn thời gian báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị, tôi đồng ý triệu tập hội nghị triển khai kế hoạch chiến đấu. Tôi nói với đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Chánh văn phòng của Bộ, sự cân nhắc của mình, dặn theo dõi tình hình, nghiên cứu, suy nghĩ thêm, và chỉ được trao đổi riêng với tôi về vấn đề này. Tôi chỉ thị cho đồng chí Cao Pha, Cục phó Cục 2, điều tra thật cẩn thận những vị trí trên cánh đồng hướng tây, nơi được coi là sơ hở, ta sẽ dùng mũi thọc sâu đánh vào, và yêu cầu phải báo cáo hàng ngày những hiện tượng như tăng quân, củng cố công sự của địch...”. (Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.919)

Công binh phá bom nổ chậm mở đường cho quân ta vào Điện Biên Phủ

Vì sao lại đề ra phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết nhanh”? Đại tá Hoàng Minh Phương - nguyên Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 4, trong chiến dịch Điện Biên Phủ nguyên là cán bộ phiên dịch tiếng Trung Quốc cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp - giải thích: “Trên đường ra mặt trận, ông Thái (Hoàng Văn Thái) thận trọng bàn với ông Mai Gia Sinh dừng ở Nà Sản nghiên cứu vì sao năm 1952 ta đánh không thành công? Ông Mai nói ta không thành công vì đánh theo lối “bóc vỏ”, tập trung đánh một điểm của địch nhưng không có lực lượng chế áp pháo binh nên bị pháo địch quần xung quanh, cùng không quân tập trung ném bom. Kiểu ấy không chiếm được tập đoàn cứ điểm mà có chiếm cũng không giữ được. Ông Mai nói lần này đánh “moi tim” và phải đánh nhanh, nếu không tranh thủ đánh sớm địch sẽ tăng quân củng cố công sự”. Vẫn theo đại tá Hoàng Minh Phương: “Tôi tham dự cuộc họp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các thành viên Đảng ủy chiến dịch và cố vấn. Ông Đặng Kim Giang, phụ trách hậu cần mặt trận bảo: Tranh thủ đánh sớm, Điện Biên Phủ mỗi ngày quân ăn 50 tấn gạo. Dân công gánh tải gạo từ Thanh Hóa lên đến kho tính ra chỉ còn 1-2 kg mỗi người. Ta chỉ có 628 xe Liên Xô viện trợ, đường độc đạo bị nó đánh ghê nhất là ở đèo Lũng Lô, ngã ba Cò Nòi. Chủ nhiệm Chính trị Lê Liêm thì nói: Bộ đội ngại đi Tây Bắc. Chưa cần nói đến vắt, bọ chó, muỗi, thì tâm lý anh em đã là thích đánh đồng bằng. Lên đến đây họ muốn đánh sớm còn về xuôi. Đánh nhanh hợp tâm lý bộ đội”.

Ngày 14.1.1954, Bộ chỉ huy chiến dịch triệu tập cuộc họp phổ biến kế hoạch tác chiến tại hang Thẩm Púa. Đại tá Hoàng Minh Phương nhớ lại: “Mệnh lệnh chiến đấu được phổ biến trên một sa bàn lớn. Cán bộ cao cấp, trung cấp các đại đoàn tham gia chiến đấu đều có mặt như những đại đoàn trưởng, chính ủy đại đoàn: Vương Thừa Vũ, Chu Huy Mân, Trần Độ, Phạm Ngọc Mậu... và nhiều cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn đã cùng chiến đấu qua rất nhiều chiến dịch. Ông Giáp hỏi: Có ai thắc mắc gì không? Không ai thắc mắc. Trận này ta có 24 lựu pháo, mấy chục sơn pháo, cối 120 ly, trong lịch sử chiến đấu của quân đội nhân dân, chưa bao giờ có hỏa lực mạnh thế. Mọi người khí thế, tin tưởng, muốn đánh lắm rồi. Bác Giáp sang gặp ông Vi Quốc Thanh bàn, tôi đi dịch. Ông nói: “Tôi với anh bàn ở hậu phương dự kiến đánh chắc, tiến chắc. Ta đã báo cáo với Bác Hồ và Trung ương là đánh 45 ngày. Giờ anh em ở đây định giải quyết trong 3 đêm 2 ngày”. Ông Vi là người thận trọng, nhưng cũng bảo: “Tôi thấy anh Mai (Gia Sinh) và anh Thái đi cả tháng trời rồi, đúng là có khi phải đánh nhanh, nếu không sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh trận này. Mà Đông – Xuân này phải đánh một trận, chả nhẽ kéo năm vạn quân lên đây rồi kéo về tay không”. (Chuyện những người làm nên lịch sử, tr.76).

Đại tá Hoàng Minh Phương còn cho biết, trong cuộc họp ngày 14.1 “Cố vấn Mai Gia Sinh đề nghị chiều 20.1 cấp tập hỏa lực, giọt 2.000 viên 105 mm làm tê liệt pháo binh địch, sau đó chuyển làn về sau yểm hộ bộ binh xung phong. Đại đoàn 308 theo kế hoạch sau khi pháo bắn xong cứ xông qua cánh đồng Mường Thanh vào sở chỉ huy địch. Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái thận trọng hỏi: “Đường chưa mở sao đưa pháo vào kịp?”. Ông Mai Gia Sinh giải thích chỉ cần mở đường Tuần Giáo đi Mường Thanh để xe GMC kéo pháo, cách Điện Biên 12 km thì hạ càng pháo, dùng sức người kéo pháo vào, nếu làm được tạo nên yếu tố bất ngờ. Nghe cũng có lý. Bên Trung Quốc có kinh nghiệm đánh rồi. Lại hỏi: “Bộ đội tôi chưa quen đánh ban ngày, giờ đánh ngày, địch có máy bay, pháo...”. Ông Mai giải thích ta xông vào đêm trước, sáng hôm sau đánh xen kẽ với địch thì máy bay nó không dám ném bom vì chết ta thì cũng chết nó”.

Trước những lý lẽ như vậy, trong lúc quân địch chưa đông, hầm hố, công sự chưa kịp củng cố vững chắc, mọi người thống nhất đánh theo phương châm “đánh nhanh giải quyết nhanh”. Kết thúc hội nghị, Đại tướng nói: “Giờ ta đánh theo phương án này, nhưng suốt quá trình chuẩn bị phải theo dõi đài địch để có gì mới kịp thời xử trí”.

PGS-TS Nguyễn Mạnh Hà

Phất cờ chiến thắng trên nóc hầm của tướng De Castries. (ảnh tư liệu)

40 năm sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Ngày hôm đó (tức ngày 26/1/1954 - T.G), tôi đã đạt được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình, đó là quyết định thay đổi phương châm tác chiến: Từ đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc”.

Đây được coi là một quyết định lịch sử trong một chiến dịch lịch sử. Bằng quyết định này, ta đã làm cho Bộ chỉ huy quân Pháp hoàn toàn bất ngờ: Việt Minh không chấp nhận một cuộc tổng giao chiến trong 3 đêm 2 ngày với hơn 16 ngàn quân tinh nhuệ và thiện chiến của Pháp đang án ngữ trong 49 cứ điểm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - một pháo đài mà họ cho là “bất khả xâm phạm”. Với quyết định này, ngày mở màn trận đánh “kinh điển” Điện Biên Phủ được lùi lại một tháng rưỡi so với kế hoạch đã được xác định.

Trong khoảng thời gian đó, chúng ta đã chủ động chuyển sang vây hãm dài ngày; triệt phá đường tiếp tế; xây dựng trận địa và đường cơ động cho pháo binh, đào hàng trăm km đường hào, bảo đảm cho bộ đội có thể tác chiến được trong mọi điều kiện; tập trung binh hỏa lực tiêu diệt từng cứ điểm; tạo thế chia cắt cô lập với bên ngoài và giữa các cứ điểm, các trung tâm đề kháng với nhau… tiến tới tiêu diệt hoàn toàn Tập đoàn cứ điểm.

Thực tế lịch sử diễn ra trong 56 ngày đêm (từ 13/3 -7/5/1954) chứng minh cho thấy quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc” là một quyết định sáng suốt và đầy trách nhiệm của Bộ Tư lệnh chiến dịch, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Quyết định đó được coi là “chìa khóa” để mở cánh cửa Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Nó được đưa ra dựa trên cơ sở bám sát diễn biến chiến trường, phân tích tình hình thực tiễn một cách khoa học và sự thấu triệt sâu sắc tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy.

Tháng 9/1953, Bộ chính trị BCH Trung ương Đảng họp bàn định về hoạt động quân sự Đông - Xuân 1953 - 1954. Mục đích của đợt hoạt động này là nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, làm thất bại Kế hoạch Navare của Pháp; tạo nên bước chuyển biến mới cho cuộc kháng chiến.

Về nguyên tắc chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo tác chiến, Bộ Chính trị xác định: Chọn nơi địch sơ hở, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững quyền chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Kết thúc Hội nghị quan trọng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Lấy Tây Bắc làm hướng hoạt động chính, các hướng khác là hướng phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dụng binh là phải thiên biến vạn hóa.

"Quyết định thay đổi phương châm tác chiến phản ánh một quá trình tư duy quân sự sắc sảo và xử lý thực tiễn linh hoạt, sáng tạo, trước hết là của Chỉ huy trưởng, của tập thể Đảng ủy, BCH chiến dịch trên cơ sở thấu triệt sâu sắc tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự ủy thác của Bộ Chính trị".

Thấu triệt tinh thần trên, dưới sự chỉ đạo của Tổng quân ủy, Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN đã khẩn trương triển khai xây dựng đề án tác chiến trên các hướng: Tây Bắc và Thượng Lào; đồng bằng Bắc bộ; Trung - Hạ Lào và phát triển sang Campuchia; Bắc Tây Nguyên của Liên khu 5. Điều đáng lưu ý là trong Đề án hoạt động quân sự Đông - Xuân 1953 - 1954 của ta và cả trong Kế hoạch Navare của Pháp cho đến thời điểm này đều chưa có cụm từ “Điện Biên Phủ”.

Trung tuần tháng 11/1953, trong khi Đại đoàn 308 hành quân lên Tây Bắc và các lực lượng chủ lực khác của QĐNDVN đang triển khai thực hiện theo kế hoạch tác chiến nêu trên, thì ngày 20/11, quân Pháp mở cuộc hành quân Catsto nhảy dù xuống Điện Biên Phủ nhằm mục đích cứu nguy cho Lai Châu và bảo vệ Thượng Lào. Và rồi, trong quá trình diễn biến của tình hình chiến sự mùa Đông năm 1953, Điện Biên Phủ dần trở thành tâm điểm của Kế hoạch Navare. Chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, BCH quân Pháp đã nhanh chóng biến địa bàn này thành một tập đoàn cứ điểm mạnh giữa vùng rừng núi Tây Bắc.

Trong khi Navare và BCH quân Pháp chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với chủ lực Việt Minh, thì Bộ Chính trị, Tổng quân ủy cũng quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân Pháp. Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị thông qua Kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954 và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Cùng lúc, 5 đòn tiến công của bộ đội chủ lực cũng được hình thành để phối hợp và “chia lửa” với chiến dịch Điện Biên Phủ. Điều này đã làm cho kế hoạch tập trung quân cơ động chiến lược ở đồng bằng Bắc bộ của Navare không thể thực hiện đựợc. Bộ chỉ huy quân Pháp cực chẳng đã, buộc phải phân tán lực lượng lên Điện Biên Phủ, Trung - Hạ Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào.

Ngày mồng một tháng Giêng năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ được thành lập. Trước ngày lên đường ra Mặt trận, Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận - Võ Nguyên Giáp đã đến Khuổi Tát chào Bác Hồ. Người đã căn dặn Đại tướng: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận. Tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”.

Ngày 14/1/1954, tại hang Thẩm Púa, BCH Mặt trận triệu tập Hội nghị cán bộ chiến dịch để phổ biến kế hoạch tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tại Hội nghị này, bộ phận tiền trạm của BTTM và cố vấn Trung Quốc đều cho rằng địch vừa mới đổ quân xuống còn “lạ nước, lạ cái”, binh lực chưa nhiều, công sự còn sơ sài, bố phòng còn sơ hở… trong khi đó bộ đội ta còn sung sức, hừng hực khí thế, vì vậy cần tranh thủ thời gian, lợi dụng khai thác những hạn chế nêu trên của địch, thực hiện phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”.

Theo phương châm tác chiến này, ta tập trung ưu thế binh hỏa lực, nhằm vào chỗ hở sườn nhất của địch, đánh thốc thẳng vào trung tâm Mường Thanh, tạo thế chia cắt, cô lập, cô lập từng cứ điểm, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch… tạo nên sự chuyển biến tiến tới tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Với cách đánh này, thời gian diễn ra chiến dịch sẽ được rút ngắn, công tác bảo đảm sẽ thuận lợi hơn, bộ đội đỡ mệt mỏi hơn. Hội nghị nhất trí tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Mọi hoạt động đều triển khai theo phương châm này.

Tuy nhiên, tình hình tại mặt trận Điện Biên Phủ diễn biến rất nhanh từng ngày. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ không còn ở trạng thái phòng ngự lâm thời nữa. Nếu đánh theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” thì khó mà bảo đảm “chắc thắng”. Chính vì vậy mà sau khi bàn bạc, trao đổi cùng trưởng đoàn cố vấn Vi Quốc Thanh, với tinh thần trách nhiệm trước Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, trước sinh mệnh của hàng vạn cán bộ, chiến sỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất Đảng ủy, BCH chiến dịch thay đổi phương châm, từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

Hay nói đúng hơn là quay trở về phương châm đã được xác định trong Tờ trình của Tổng Quân ủy gửi lên Bộ Chính trị ngày 6/12/1953, trong đó dự kiến: “Thời gian tác chiến ở Điện Biên Phủ ước độ 45 ngày, không kể thời gian tập trung bộ đội và làm công tác chuẩn bị. Trận đánh có thể được bắt đầu vào trung tuần tháng 2 năm 1954. Dự kiến này đã được tính toán theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.

Trong khoảng thời gian đó, chúng ta đã chủ động chuyển sang vây hãm dài ngày; triệt phá đường tiếp tế; xây dựng trận địa và đường cơ động cho pháo binh, đào hàng trăm km đường hào, bảo đảm cho bộ đội có thể tác chiến được trong mọi điều kiện; tập trung binh hỏa lực tiêu diệt từng cứ điểm; tạo thế chia cắt cô lập với bên ngoài và giữa các cứ điểm, các trung tâm đề kháng với nhau… tiến tới tiêu diệt hoàn toàn Tập đoàn cứ điểm.

Thực tế lịch sử diễn ra trong 56 ngày đêm (từ 13/3 -7/5/1954) chứng minh cho thấy quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc” là một quyết định sáng suốt và đầy trách nhiệm của Bộ Tư lệnh chiến dịch, đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Quyết định đó được coi là “chìa khóa” để mở cánh cửa Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Nó được đưa ra dựa trên cơ sở bám sát diễn biến chiến trường, phân tích tình hình thực tiễn một cách khoa học và sự thấu triệt sâu sắc tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy.

Tháng 9/1953, Bộ chính trị BCH Trung ương Đảng họp bàn định về hoạt động quân sự Đông - Xuân 1953 - 1954. Mục đích của đợt hoạt động này là nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, làm thất bại Kế hoạch Navare của Pháp; tạo nên bước chuyển biến mới cho cuộc kháng chiến.

Về nguyên tắc chỉ đạo chiến lược, chỉ đạo tác chiến, Bộ Chính trị xác định: Chọn nơi địch sơ hở, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững quyền chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng. Kết thúc Hội nghị quan trọng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Lấy Tây Bắc làm hướng hoạt động chính, các hướng khác là hướng phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dụng binh là phải thiên biến vạn hóa.

"Quyết định thay đổi phương châm tác chiến phản ánh một quá trình tư duy quân sự sắc sảo và xử lý thực tiễn linh hoạt, sáng tạo, trước hết là của Chỉ huy trưởng, của tập thể Đảng ủy, BCH chiến dịch trên cơ sở thấu triệt sâu sắc tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự ủy thác của Bộ Chính trị".

Thấu triệt tinh thần trên, dưới sự chỉ đạo của Tổng quân ủy, Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN đã khẩn trương triển khai xây dựng đề án tác chiến trên các hướng: Tây Bắc và Thượng Lào; đồng bằng Bắc bộ; Trung - Hạ Lào và phát triển sang Campuchia; Bắc Tây Nguyên của Liên khu 5. Điều đáng lưu ý là trong Đề án hoạt động quân sự Đông - Xuân 1953 - 1954 của ta và cả trong Kế hoạch Navare của Pháp cho đến thời điểm này đều chưa có cụm từ “Điện Biên Phủ”.

Trung tuần tháng 11/1953, trong khi Đại đoàn 308 hành quân lên Tây Bắc và các lực lượng chủ lực khác của QĐNDVN đang triển khai thực hiện theo kế hoạch tác chiến nêu trên, thì ngày 20/11, quân Pháp mở cuộc hành quân Catsto nhảy dù xuống Điện Biên Phủ nhằm mục đích cứu nguy cho Lai Châu và bảo vệ Thượng Lào. Và rồi, trong quá trình diễn biến của tình hình chiến sự mùa Đông năm 1953, Điện Biên Phủ dần trở thành tâm điểm của Kế hoạch Navare. Chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, BCH quân Pháp đã nhanh chóng biến địa bàn này thành một tập đoàn cứ điểm mạnh giữa vùng rừng núi Tây Bắc.

Trong khi Navare và BCH quân Pháp chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với chủ lực Việt Minh, thì Bộ Chính trị, Tổng quân ủy cũng quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với quân Pháp. Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị thông qua Kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954 và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Cùng lúc, 5 đòn tiến công của bộ đội chủ lực cũng được hình thành để phối hợp và “chia lửa” với chiến dịch Điện Biên Phủ. Điều này đã làm cho kế hoạch tập trung quân cơ động chiến lược ở đồng bằng Bắc bộ của Navare không thể thực hiện đựợc. Bộ chỉ huy quân Pháp cực chẳng đã, buộc phải phân tán lực lượng lên Điện Biên Phủ, Trung - Hạ Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào.

Ngày mồng một tháng Giêng năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ được thành lập. Trước ngày lên đường ra Mặt trận, Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận - Võ Nguyên Giáp đã đến Khuổi Tát chào Bác Hồ. Người đã căn dặn Đại tướng: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận. Tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”.

Ngày 14/1/1954, tại hang Thẩm Púa, BCH Mặt trận triệu tập Hội nghị cán bộ chiến dịch để phổ biến kế hoạch tiến công Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tại Hội nghị này, bộ phận tiền trạm của BTTM và cố vấn Trung Quốc đều cho rằng địch vừa mới đổ quân xuống còn “lạ nước, lạ cái”, binh lực chưa nhiều, công sự còn sơ sài, bố phòng còn sơ hở… trong khi đó bộ đội ta còn sung sức, hừng hực khí thế, vì vậy cần tranh thủ thời gian, lợi dụng khai thác những hạn chế nêu trên của địch, thực hiện phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”.

Theo phương châm tác chiến này, ta tập trung ưu thế binh hỏa lực, nhằm vào chỗ hở sườn nhất của địch, đánh thốc thẳng vào trung tâm Mường Thanh, tạo thế chia cắt, cô lập, cô lập từng cứ điểm, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch… tạo nên sự chuyển biến tiến tới tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Với cách đánh này, thời gian diễn ra chiến dịch sẽ được rút ngắn, công tác bảo đảm sẽ thuận lợi hơn, bộ đội đỡ mệt mỏi hơn. Hội nghị nhất trí tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Mọi hoạt động đều triển khai theo phương châm này.

Tuy nhiên, tình hình tại mặt trận Điện Biên Phủ diễn biến rất nhanh từng ngày. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ không còn ở trạng thái phòng ngự lâm thời nữa. Nếu đánh theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” thì khó mà bảo đảm “chắc thắng”. Chính vì vậy mà sau khi bàn bạc, trao đổi cùng trưởng đoàn cố vấn Vi Quốc Thanh, với tinh thần trách nhiệm trước Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, trước sinh mệnh của hàng vạn cán bộ, chiến sỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất Đảng ủy, BCH chiến dịch thay đổi phương châm, từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

Hay nói đúng hơn là quay trở về phương châm đã được xác định trong Tờ trình của Tổng Quân ủy gửi lên Bộ Chính trị ngày 6/12/1953, trong đó dự kiến: “Thời gian tác chiến ở Điện Biên Phủ ước độ 45 ngày, không kể thời gian tập trung bộ đội và làm công tác chuẩn bị. Trận đánh có thể được bắt đầu vào trung tuần tháng 2 năm 1954. Dự kiến này đã được tính toán theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”.

Quyết định thay đổi phương châm tác chiến tuy là của tập thể Đảng ủy, BCH chiến dịch và có sự tham khảo ý kiến của Cố vấn Trung Quốc, nhưng nó mang đậm dấu ấn của Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Võ Nguyên Giáp. Qua nhiều nguồn tư liệu cũng như lời kể của một số nhân chứng - những người từng làm việc bên cạnh Đại tướng trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch thì quãng thời gian từ sau Hội nghị Thẩm Púa cho đến ngày 25/1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhiều trăn trở xung quanh chủ trương “đánh nhanh, giải quyết nhanh”.

Từng ngày, từng giờ dõi theo từng động thái ở mặt trận, nỗi lo lắng và sự hoài nghi trong ông về yếu tố “chắc thắng” nếu đánh theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” cứ lớn dần cùng với sự gia tăng tính kiên cố và sức mạnh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp và sự khó khăn trong việc đưa pháo vào và chuẩn bị công sự của bộ đội ta.

Để có được một quyết định mà như ông nói là “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân” của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phải trải qua 11 ngày đêm “mất ăn, mất ngủ” và 1 đêm thức trắng; trải qua một “cuộc sát hạch” trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình, lập luận một cách khoa học đủ sức thuyết phục Đoàn cố vấn, tập thể Đảng ủy và BCH Mặt trận, để nhận được sự đồng thuận.

Điều đáng nói là dù thấy trước những khó khăn mới từ việc thay đổi phương châm tác chiến nhưng rõ ràng thấu triệt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc lên đường ra trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Đảng ủy, BCH chiến dịch đã tìm ra “chiếc chìa khóa” để có thể mở cánh cửa tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được coi là bất khả xâm phạm này.

Tư tưởng “đánh chắc thắng” là bất biến; việc lựa chọn cách đánh sao cho phù hợp chính là sự thể hiện “ứng vạn biến”. Đó là quy luật của lịch sử và quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ là một trong những trường hợp như vậy./.

Để có được một quyết định mà như ông nói là “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân” của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phải trải qua 11 ngày đêm “mất ăn, mất ngủ” và 1 đêm thức trắng; trải qua một “cuộc sát hạch” trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình, lập luận một cách khoa học đủ sức thuyết phục Đoàn cố vấn, tập thể Đảng ủy và BCH Mặt trận, để nhận được sự đồng thuận./.

Đại tá, PGS.TS Trần Ngọc Long-Nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

Nguồn: VOV